Đưa ra 75 bước tạo lập một quy trình kinh doanh: Đặt tên công ty, tuyển nhân viên, huy động nguồn vốn,…Qua tài liệu này bạn sẽ thấy quy trình kinh doanh không quá phức tạp.
“Đất nước Việt Nam có nhiều dân tộc với các nghi lễ và tập tục khác nhau. Đặc biệt, có rất nhiều nghi lễ và tập tục dành riêng cho phụ nữ với các quy định, thiết chế, các điều này kiêng và cấm kỵ mà người phụ nữ phải tuân theo. Điều này được thể hiện rõ nét qua các nghi lễ trong việc tế tự, qua các điều kiêng kỵ trong hôn lễ, các thiết chế trong mối quan hệ giữa gia tộc, gia đình và các tập tục phải tuân thủ, gìn giữ đối với chồng, con.
Cuốn sách Nghi lễ và tập tục của người Việt với phụ nữ đề cập tới các vấn đề nói trên nhằm thể hiện sự khác biệt và tương đồng về văn hóa của các dân tộc đang sinh sống hàng ngàn năm nay trên lãnh thổ Việt Nam. Thực tế cho thấy có một số điều trong các nghi lễ và tập tục này không còn thích hợp với cuộc sống hiện đại do sự lỗi thời và lạc hậu hoặc tính chất khắc nghiệt, ngặt nghèo của nó, song đa phần các nghi lễ và tập tục mang tính cộng đồng được truyền lại đến nay vẫn là sợi dây liên kết, củng cố sự bền vững của gia đình nên cần phải bảo vệ lưu giữ, khai thác và phát huy”.
Những kiến thức cơ bản về không khí ẩm. Ảnh hưởng của môi trường không khí và chọn thông số tính toán các hệ thống điều hòa không khí. Tính cân bằng nhiệt và cân bằng ẩm. Xử lý nhiệt ẩm không khí. Thiết lập và tính toán các sơ đồ điều hòa không khí. Hệ thống điều hòa không khí kiểu khô, kiểu ướt. Tuần hoàn không khí trong phòng. Hệ thống vận chuyển không khí. Hệ thống đường ống trong điều hòa không khí. Điều khiển tự động trong điều hòa không khí. Thông gió và cấp gió tươi. Lọc bụi và tiêu âm.
Lời nhà xuất bản
Khi nói đến những thành tựu rực rỡ của văn học hiện đại Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ 1930-1945 và tiếp tục về sau này của nền văn học cách mạng, không thể không nói đến một tiền đề hết sức quan trọng, một công cụ cơ bản nhất để tạo nên tác phẩm văn học, đó là ngôn ngữ, là tiếng Việt La tinh hóa, tức chữ quốc ngữ như ta thường gọi lâu nay. Việc dùng mẫu tự La tinh để ghi âm tiếng Việt (La tinh hóa tiếng Việt) đã được các nhà truyền giáo Phương Tây thực hiện từ các thế kỷ trước. Đặc biệt phải kể đến công lao của Alếchxăng đờ Rốt đã tiếp tục công việc của các nhà truyền đạo trước đó, biên soạn được cuốn từ điển đầu tiên Dictionnatium anamitium lusitanun et latinum1[1].
Nhưng chữ quốc ngữ từ lĩnh vực giao tiếp truyền đạo, lĩnh vực hành chính của chính quyền thuộc địa đến tiếng Việt như là ngôn ngữ chính thức của đời sống xã hội, của báo chí truyền thông, của văn học nghệ thuật là cả một thời gian dài để làm quen, rèn rũa, trau chuốt cho đến thuần thục. Thời gian chuẩn bị đó khá dài, khoảng trên ba thế kỷ (từ thế kỷ 16 cho đến tận gần giữa thế kỷ 20 (thời kỳ 1930 – 1945). Và, những báo, tạp chí, những công báo… ở thời kỳ này, dù theo các xu hướng chính trị xã hội khác nhau, đều có tác dụng khách quan thúc đẩy sự phát triển hoàn thiện của Tiếng Việt La tinh hóa, của chữ quốc ngữ. Trong số các báo, tạp chí như Đông Pháp, Trung Bắc tân văn, An Nam tạp chí, Nam Phong tạp chí… thì tạp chí Nam Phong do Phạm Quỳnh làm chủ bút (từ 1917 đến 1934) có những đóng góp cần được nhìn nhận lại. Trong số các cây bút chính của Nam Phong như Nguyễn Mạnh Bổng, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, hai cha con Nguyễn Bá Học, Nguyễn Bá Trạc, Phạm Duy Tốn… thì cây bút chủ báo Phạm Quỳnh là nổi bật nhất. Thượng Chi đã viết thường xuyên về nhiều thể loại trên báo này: dịch thuật, thông tin, bình luận, khảo cứu… Các bút ký Trẩy hội Chùa Hương, Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ có thể gọi là bút ký du lịch, khi Phạm Quỳnh mới ra làm báo Nam Phong, đầy hăm hở của một người ham hiểu biết, yêu mến thiên nhiên, tìm hiểu các di sản văn hóa, các phong tục tập quán. Trong bút ký Trẩy hội Chùa Hương, tác giả rất bài bác tệ mê tín buôn thần bán thánh nhưng lại tỏ ra thích thú khi thưởng ngoạn cảnh đẹp thiên nhiên và tìm thấy ở Đạo Phật chân chính một nguồn cứu rỗi tâm hồn. Trong Bút ký Mười ngày ở Huế, với một thời gian ngắn ngủi, tác giả đã nêu được nhiều hình ảnh phản ánh tình hình đời sống, dân tình thời ấy cùng vẻ đẹp kỳ ảo của cảnh núi non sông nước, các công trình kiến trúc đặc sắc của cố đô Huế, gặp gỡ những gia đình quí tộc có danh tiếng như nữ sĩ Đạm Phương (mẹ đẻ nhà văn Hải Triều tức Nguyễn Khoa Văn…). Đặc biệt trong thiên bút ký này Phạm Quỳnh được tận mắt chứng kiến lễ tế Nam Giao.Những ghi chép này rất có giá trị trong việc tìm hiểu phong tục cung đình thời nhà Nguyễn. Ở Một tháng ở Nam Kỳ, tác giả đã nhận biết sớm và rất đúng tính cách đời sống Nam Bộ, ghi lại được nhiều điều về đời sống Nam Kỳ lục tỉnh lúc đó, về tình hình của các Hội khuyến học và báo chí Nam Kỳ đương thời. Tóm lại, về mặt nội dung, các bút ký du lịch của Phạm Quỳnh đã ghi lại được nhiều mặt về thiên nhiên đất nước, phong tục tập quán và đời sống đương thời, cách viết hấp dẫn, suy tư phong phú, gây được tình cảm tốt cho người đọc về nghĩa vụ của người công dân đối với quốc gia, với truyền thống văn hóa của tiền nhân.
Cần phải khẳng định những đóng góp của tác giả Phạm Quỳnh về ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại (chữ quốc ngữ). Nếu chúng ta nhớ lại khoảng những năm hai mươi, văn xuôi quốc ngữ chưa phải đã đạt đến trình độ thuần thục. Thời ấy, một người được dư luận chú ý là Hoàng Tích Chu đưa ra lối văn mới chống lại thứ văn biền ngẫu truyền thống, tác giả này thường ký là Văn Tôi, và giới văn học thường gọi là thứ văn cộc, đã được coi như một sự đổi mới mạnh dạn (theo Vũ Ngọc Phan – Những năm tháng ấy, hồi ký, Nxb Văn học, 1987) thì những bút ký du lịch của Phạm Quỳnh trong những năm 1918-1919 đã tỏ ra là một giọng văn trôi chảy, uyển chuyển, diễn đạt được nhiều nội dung phong phú.
Phạm Quỳnh hoạt động khá rộng trên các lĩnh vựcchính trị, văn hóa, nghệ thuật. Ông chủ trương dựa vào người Pháp để dần dần đòi lại quyền tự trị, (chủ trương thuyết lập hiến, dựa vào hiệp ước Ácmăng 1883 để đòi lại quyền tự trị) khác với Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương để cho người Pháp cai trị trực tiếp (thuyết trực trị). Phạm Quỳnh tỏ ra thần phục văn hóa Pháp, nước Pháp cũng như chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam, những quan hệ chính trị giữa Phạm Quỳnh với chính quyền thực dân Pháp là đề tài thuộc lĩnh vực chính trị – lịch sử. Ông đã, đang và sẽ còn được phân tích, đánh giá, phê phán trên lĩnh vực này, nhưng về mặt văn hóa, văn học, về tiến trình phát triển của văn xuôi quốc ngữ thì công lao đóng góp của ông cần được nhìn nhận lại. Điều đó đã được thể hiện phần nào trên các công trình gần đây. Trong Từ điển Văn hóa Việt Nam (Nxb Văn hóa – Thông tin. Hà Nội. 1993) đã ghi nhận điều đó và tác giả Phạm Quỳnh đã được đưa vào chương trình giảng dạy ở nhà trường (Sách giáo khoa Văn 12.Nxb Giáo dục. 199….). Vì vậy việc cho in lại các bút ký du lịch của Phạm Quỳnh chỉ là cụ thể hóa sự đánh giá lại tác giả này trên lĩnh vực văn học – báo chí, với tư cách là một tác giả văn học. Để giúp cho việc nghiên cứu tiến trình văn xuôi quốc ngữ cũng như chữ quốc ngữ, và ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại, chúng tôi giữ nguyên trạng hình thức văn phong của tác giả, chỉ lược bỏ những chi tiết xét không cần gợi lại.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và rất mong nhận được sự phê bình góp ý của các nhà nghiên cứu và đông đảo bạn đọc.
Hà Nội tháng 6-1994, Nhà Xuất bản Văn học
Hiểu quản trị nguồn nhân sự, chức năng vai trò của bộ phận nhân sự trong doanh nghiệp. Các phương pháp tuyển chọn nhân sự, bố trí và sử dụng nhân viên trong doanh nghiệp. Sự cần thiết đào tạo, huấn luyện và phát triển nghề nghiệp của nhân viên. Giải thích những tổ chức có thể phát triển những kỹ năng của nhân viên. Xác định mục tiêu và tiến trình, các phương pháp đánh giá nhân viên, những vấn đề cần quan tâm khi thực hiện đánh giá nhân viên. Trả công lao động, các hình thức trả công lao động
This reference analyzes principles and procedures related to the
processing of reservoir fluids for the separation, handling, treatment,
and production of quality petroleum oil and gas products—detailing
strategies in equipment selection and system design, field development
and operation, and process simulation and control to increase plant
productivity and safety and avoid losses during purification,
treatment, storage, and export.
Qua bài viết “Nghị lực vươn lên của một thương binh” đăng trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 26/12/2006 (Mục “Gương sáng đảng viên”), bạn đọc đã được biết về cựu chiến binh Vương Khả Sơn, tác giả cuốn sách “Ký ức chiến tranh”. Bài viết này cung cấp thêm thông tin về Vương Khả Sơn và cuốn sách đó.
Tháng 4/2006, Nhà xuất bản Thanh niên đã ấn hành cuốn Hồi ký “Ký ức chiến tranh” của người lính – nhà giáo – thương binh Vương Khả Sơn. Cuốn sách ngay lập tức đã được độc giả khắp mọi miền Tổ quốc đón nhận nồng nhiệt và gây một hiệu ứng xã hội rộng lớn. Đến tháng 12/2006, đã in lần thứ 4 với tổng số 1,2 vạn cuốn. Là một đồng đội của anh, sau khi đọc cuốn “Ký ức chiến tranh”, tôi thực sự xúc động và hết sức ngạc nhiên về cuốn sách cùng tác giả của nó. Xin trân trọng gửi tới quý báo và độc giả bài viết này để cùng bày tỏ và chia sẻ cảm xúc đó.
Như bao đồng đội khác, tôi cũng là một người lính từng cầm súng đi qua cuộc chiến và như “Ký ức chiến tranh” của Vương Khả Sơn ghi lại, tôi thoát chết, trở về sau ngày im tiếng súng. Tôi cảm nhận thật sâu sắc, thấm thía những ngày gian lao binh lửa ấy. Đọc “Ký ức chiến tranh” của người đồng đội từng gắn bó với, chia lửa chiến tranh trong những năm tháng cam go, khốc liệt của cuộc trường chinh chống Mỹ, tôi có cảm giác vừa quen vừa lạ. Quen vì những điều anh ghi lại trong tác phẩm là những gì mà anh và chúng tôi đã trải qua, từng chứng kiến qua hành trình, quãng đời cầm súng của mình. Lạ vì có những điều khó có thể cắt nghĩa được làm chúng tôi hết sức ngạc nhiên.
Những năm tháng ở chiến trường, chúng tôi quá quen với tác phong sinh hoạt và công việc của người lính. Đó là tính năng động, khẩn trương, nhạy cảm và độ chính xác… có lệnh là đi, có giặc là đánh. Nó không còn là khẩu hiệu nữa mà là nhiệm vụ thường trực. Chúng tôi hành quân liên miên (di chuyển địa bàn, tiềm nhập, công đồn, phục kích vào các chiến dịch…) rồi đánh to, đánh nhỏ, đánh phối hợp, chống càn, đánh tàu chiến trên sông Vàm Cỏ Đông, làm công tác dân – binh vận “diệt ác, phá kiếm” hầu như không có thời gian nghỉ. Hi sinh, đổ máu xảy ra như cơm bữa.
Hồi ký của Vương Khả Sơn đã khai thác khá tỉ mỉ, chính xác và thành công những gì đã xẩy ra trong cuộc chiến như nó vốn có. Đối với cuộc đời mỗi người lính chúng tôi, những kỷ niệm ấy vẫn khắc ghi trong tâm trí. Và giờ đây, khi đọc Hồi ký của anh, quá khứ ấy hiện lên càng rõ nét. Đó là những năm tháng binh lửa bi hùng, những ngày tháng ác liệt đạn bom, đổ máu hy sinh mà vẫn hồn nhiên, vui tươi và trong sáng đến lạ kỳ. Đúng là “Mưa bom, bão đạn, lòng thanh thản – Nhạt muối, vơi cơm, miệng vẫn cười” – những điều mà ngay cả với chúng tôi, những người trong cuộc cũng không thể giải thích nổi.
Đọc “Ký ức chiến tranh”, chúng tôi gặp lại chính mình ở cái thời máu lửa ấy – thời mà nhiệm vụ và bom đạn không cho phép có thời gian – dù chỉ một chút để nghĩ về đời tư của mình. Cái thời mà sự tiêu cực, sự hèn nhát không có cơ hội để tồn tại. Tâm trí lúc này chỉ dành cho những trận đánh, những chiến dịch to – nhỏ; những nhiệm vụ được giao cốt để chiến thắng. Mình có thể hy sinh trong một trận đánh nào đó, rất có thể là buổi sáng, buổi chiều hoặc bị pháo kích, tập kích vào ban đêm. Hôm nay, tự mình đã chôn cất mấy đồng đội hy sinh; biết đâu ngày mai, mình là kẻ tiếp theo ngã xuống và những đồng đội còn lại là người chôn cất mình. Biết thế mà có mấy ai lùi bước, nhụt chí đâu!
Ở chiến trường cuộc sống đơn giản đến vô chừng, tất cả chỉ gói gọn trong một cái “bồng” (một thứ ba lô thời ấy, rất cơ động). Vậy mà lúc nào chúng tôi cũng vui, sôi động và năng nổ, linh hoạt và nhạy bén. Có lẽ, đó là phẩm chất của tuổi trẻ và cuộc đời người lính. Tất cả giờ đây đã trở thành ký ức. “Độ lùi về thời gian…” và “Ký ức chiến tranh” đã nhắc chúng tôi nhớ lại rõ hơn, cảm nhận đầy đủ và sâu sắc hơn, thấm thía và ý nghĩa hơn với những gì mình từng nếm trải. “Thật tuyệt vời vì chúng tôi được chứng kiến những giờ phút trọng đại của lịch sử dân tộc – chiến thắng 30/1/1975 – chiến thắng đã nêu lên một bài học ngay cả bây giờ cũng vấn thấm thía: Kiên trì hơn một tý, chịu khó một tý, ngay cả trong lúc nguy nan nhất thì nhất định sẽ thành công” (Nguyễn Khoa Điềm) và “Ký ức chiến tranh” đã thể hiện rõ nét điều đó. Đó là thành công của tác giả – người lính, thầy giáo Vương Khả Sơn.
Những năm tháng ấy đã rèn đúc và tôi luyện cho chúng tôi một nghị lực, một sức mạnh tiềm ẩn để vượt qua tất cả những khó khăn, bầm dập của cuộc sống đời thường, để trụ vững và phấn đấu hoàn thành nghĩa vụ cuộc đời. Biết bao khó khăn chồng chất của bản thân và gia đình ở thập niên 80-90 của thế kỷ XX được anh Sơn thể hiện trong tác phẩm không hề né tránh, tô vẽ cường điệu. Đúng như nội dung bài báo “Nước mắt chảy vào trong” của phóng viên Kim Hoa đăng trên trang nhất Báo Phụ nữ TP HCM (số 30, chủ nhật ngày 25/7/2006) đã thể hiện. Và còn bao câu chuyện nữa về cuộc đời người lính sau chiến tranh của anh và đồng đội mà “Ký ức chiến tranh” chưa ghi hết được. Những gì còn lại không hề mất đi mà đã trở thành những câu chuyện, những nỗi tâm tình động viên lẫn nhau trong cuộc sống của chúng tôi suốt hơn 30 năm qua sau ngày đất nước giải phóng. Nó không chỉ là kỷ niệm gắn bó, máu thịt một thời cầm súng của chúng tôi trong quá khứ và cuộc sống hôm nay mà cho các thế hệ con cháu mai sau.
May mắn hơn nhiều đồng đội là sau chiến tranh, chúng tôi còn được sống, trở về đời thường; cùng cố gắng học tiếp rồi đi dạy với bao lo toan vất vả thiếu thốn, bởi bữa ăn hàng ngày là ngô xay, sắn lát, “bo bo” (mỳ hạt)… Vậy mà vẫn kiên trì, không bỏ cuộc. Chúng tôi thường tâm sự “Khổ thì vẫn khổ nhưng tan giặc”… và khẳng định khó khăn, thiếu thốn này đã thấm vào đâu so với những năm tháng đạn bom ở chiến trường. Nói vậy để thấy một điều: chiến tranh đã rèn đúc cho con người một bản lĩnh và vốn sống cùng những bài học riêng rất quý giá. Đặc biệt, những trí thức được học hành tử tế như chúng tôi thì đó là những thứ thật đắt, thật quý, dễ gì ai cũng có được!
Ký ức ấy, bài học ấy được Vương Khả Sơn ghi lại trong hồi ký của mình hết sức chân thực, sâu sắc, cảm động làm cho nhiều người thích thú, yêu quý và trân trọng, ngợi ca. Thư từ độc giả khắp mọi miền Tổ quốc gửi về bộc lộ tình cảm và sự ngưỡng mộ anh. Là người bạn tâm tình và là đồng đội cùng chung chiến hào với anh, chúng tôi có nhiều kỷ niệm thật đẹp và sâu sắc vả trong chiến đấu lẫn đời thường như anh đã ghi trong tác phẩm. Riêng tôi, cũng nhận được một số thư của độc giả gửi đến. Rất mừng và cũng rất tự hào, chia sẻ thành công của bạn mình. Song, qua “Ký ức chiến tranh” tôi và biết bao đồng đội cũng thấy những điều thật lạ là không hiểu vì sao trong ký ức của mình, anh không chỉ ghi lại thật cụ thể đến chi tiết từng trận đánh, từng địa danh, ngày, giờ, gương mặt, tên tuổi đồng đội, số người hi sinh, bị thương… mà còn nhớ cả những thời lượng chuyển quân, những chiến dịch với nhiệm vụ, ý đồ chiến thuật, chiến lược ở cả tầm vi mô lẫn vĩ mô. Chẳng hạn tư tưởng cách mạng tiến công trong chiến dịch bảo vệ Hiệp định Pari năm 1973 của tướng Lê Đức Anh, lãnh đạo Quân khu 7 lúc ấy (sau này là Chủ tịch nước) hoặc ta đánh thí điểm giải phóng Phước Long để thăm dò phản ứng của Mỹ hay tiểu đoàn 7, E721 làm nhiệm vụ đứng chân ở Hoà Khánh – Long An nhằm thu hút lực lượng địch, tạo điều kiện chi đaị quân ta thọc sâu, ém sẵn…
Vậy là, không chỉ nhạy bén, năng động, linh hoạt trong chiến đấu của một người lính mà ở anh còn có sự nhận thức, hiểu biết và nắm vững đường lối chiến lược, ý đồ chiến thuật, mức độ và quyết tâm của cấp trên như một cán bộ lãnh đạo trong cuộc kháng chiến “thần thánh” này để giữ vững quyết tâm, hoàn thành nhiệm vụ của mình với niềm tin chiến thắng.
Tôi xin mượn lời anh để lý giải cho những điều chưa cắt nghĩa được: “Điều gì giúp tôi nhớ lâu, nhớ kỹ đến vậy? Tôi nghĩ, chỉ có tình đồng đội cùng nhau chia sẻ những hi sinh mất mát, gian khổ, ác liệt ở chiến trường mới có được… Những năm tháng binh lửa trận mạc cùng những gương mặt đồng đội thân yêu đã trở thành tiềm thức, trở thành lớp trầm tích trong võ não…” (Vĩ Thanh – Ký ức chiến tranh)
Là bạn tri kỷ, tôi hiểu hoàn cảnh, thiên tư và cuộc sống tâm hồn của anh. Có lẽ, chiến tranh, gian khổ và năm tháng đã luyện cho tâm hồn anh một cái gì rất trong, trong đến nỗi anh “soi mình mà thấy được tâm tư người khác, một nghị lực mà chỉ những lúc khó khăn mới thấy hết được sức mạnh của nó và sự hi sinh, hồn nhiên, giản dị cho lý tưởng của mình cho những người khác cùng đi trên một con đường” (Nguyễn Khải)
Điều này đã được thể hiện rõ trong “Ký ức chiến tranh”, nó không chỉ là ký ức của những năm tháng chiến đấu mà còn biểu hiện của sự ham tìm hiểu, nắm bắt tình hình thực tế. Và 30 năm sau ngày chiến thắng, thời gian đã bổ sung cho anh vốn sống, vốn tư liệu dồi dào để viết nên một “Ký ức chiến tranh” ngoài ý muốn.
Một điều nữa không chỉ riêng tôi mà nhiều người khác cũng bất ngờ đó là sự xuất hiện đột ngột rồi toả sáng của một cây bút kết hợp được hai lĩnh vực: kí sự và hồi kí. Ở đây, hoàn toàn không có sự hư cấu mà ngược lại, rất chân thực, chân thực đến mức trần trụi, hài hước và xúc động. Hôm 28/4/2006, nói chuyện với chúng tôi ở một quán giải khát Ngọc Hà, Hà Nội, anh Nguyễn Sỹ Đại – Phó Tổng Biên tập Báo Nhân dân cuối tuần tâm sự: “Trong số phát hành năm 2005, cuốn “Ký ức chiến tranh” của Vương Khả Sơn là một trong những cuốn hay”.
Đọc “Ký ức chiến tranh” của anh, tôi thấy lối viết chắc chắn, mạch lạc, giàu chất liệu hiện thực, rất văn chương, xúc động và sâu sắc; bố cục chặt chẽ có hệ thống, chú trọng nhiều đến tổng thể; khắc sâu, làm rõ thông tin chi tiết cụ thể, điển hình cao. Chỉ thoáng vài nét cảm nhận, với độ suy tư vừa phải để sự việc hiện lên sống động, có hồn làm cho bức tranh chiến trận không chỉ có ác liệt, đối kháng, bắn giết mà còn đầy tình cảm, thanh thản nhẹ nhàng mà lãng mạn, rất thơ mộng, mang vẻ đẹp nhân văn của cuộc sống người lính…
Quả là một cây bút chững chạc, thể hiện tính chuyên nghiệp cao trong khi chưa hề có một tên tuổi, một chứng chỉ trên văn đàn. Trả lời phỏng vấn của Trần Kim Hoa, phóng viên Báo Phụ nữ TPHCM, tôi từng nói: “Trong thời bình, anh Sơn đã làm được một việc mà không phải ai cũng làm được. Ký ức chiến tranh, người lính nào cũng có nhưng cảm nhận và ghi lại sâu sắc trong những trang viết của mình một cách sinh động như vậy quả là hiếm. Tôi nghĩ, mình cũng có một trí nhớ không kém gì anh Sơn và cũng thao thức về những năm tháng ấy lắm nhưng không làm được như anh Sơn. Anh đã đem lại cho chúng tôi sự tự hào và vinh hạnh. Đúng là: “Không nỗi đau nào riêng của ai – Của chung nhân loại chiến công này”.
Đồng đội cảm ơn anh, nhân dân sẽ biết ơn anh, nhất là bà con cô bác ở Long An, Tây Ninh, miền Đông Nam Bộ cùng tất cả những vùng đất anh đã đi qua; cả những gia đình có những người con thân yêu mãi không trở về sau cuộc chiến sẽ phù hộ cho anh ở quãng đời còn lại. Bởi anh đã nói được tất cả những gì cần phải nói về cuộc chiến vĩ đại của dân tộc mà ở đó có bao lớp người như anh cùng chúng tôi đã đi qua để làm nên chiến thắng 30/4/1975 lịch sử.
Có thể nói “Ký ức chiến tranh” của Vương Khả Sơn là cuộc vào trận thứ hai của anh. Nó cũng không kém phần gian khổ và cam go. Thành công của nó được tiếp sức từ thành công của những trận chiến đấu ác liệt với quân thù, từ nghĩa tình sâu nặng, gắn bó, sống có trách nhiệm với mọi người, với cuộc đời bằng nghị lực dồn tụ, nung nấu trong suốt hơn 30 năm của người cựu chiến binh Vương Khả Sơn.
Thành công của “Ký ức chiến tranh” còn làm thế hệ hôm nay và mai sau nhìn nhận đúng tư thế của “Bộ đội cụ Hồ” của người chiến sỹ quân giải phóng trong cuộc trường chinh chống Mỹ cứu nước oanh liệt. Với quá khứ hào hùng cũng như trong cuộc sống đời thường hôm nay, những người lính ấy bao giờ cũng là người biết yêu thương chân tình, sống có trách nhiệm và đức độ nhất. Hình tượng ấy là biểu trưng cho tầm vóc và bản chất của dân tộc ta trong dặm dài lịch sử dựng nước và giữ nước.
Tôi xin được mượn ý thơ của thi sĩ Huy Cận để khép lại cảm xúc của mình đối với “Ký ức chiến tranh” và tác giả của nó: “Sống sừng sừng bốn nghìn năm vững chãi – Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa – Trong và thật hai bờ suy tưởng – Rất hiên ngang mà nhân ái chan hoà”.
Vũ Duy Tòng – Giáo viên Văn Trường THPT Diễn Châu II, Nghệ An
(Báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam)
Bài 1: Tổng quan về tài chính doanh nghiệp (file 154kb)
Bài 2: Định giá cổ phần (file 143kb)
Bài 3: Rủi ro (file 229kb)
Bài 4: Rủi ro và tỷ suất sinh lợi (file 261kb)
Bài 5: Phân tích tài chính (file 140kb)
Bài 6: Tác động của đòn bẩy (file 176kb)
Bài 7: Kế hoạch tài chính dài hạn (file 215kb)
Bài 8: Chi phí sử dụng vốn (file 233kb)
Bài 9: Chính sách cổ tức (file 151kb)
Bài 10: Chính sách nợ tác động thế nào đến giá trị doanh nghiệp (file 145kb)
Bài 11: Một doanh nghiệp nên vay bao nhiêu (file 136kb)
Bài 12: Quyết định cấu trúc vốn trong thực tiễn (file 145kb)
Bài 13: Thị trường hiệu quả (file 157kb)
Bài 14: Lập kế hoạch tài chính ngắn hạn (file 145kb)
Bài 15: Quản trị tín dụng (file 151kb)
Bài 16: Quản trị tiền mặt và hàng tồn kho (file 145kb)
Hơn 2 triệu người đã chết vì đói… Cả nhà đói, cả dòng họ đói, cả làng cả xóm cùng đói. Cái đói kinh hoàng năm Ất Dậu 1945 ấy, người trẻ hôm nay sẽ không tưởng tượng nổi. Và bước vào Ất Dậu 2005 này, chúng ta hãy cùng mở lại những trang hồ sơ về trận đói khủng khiếp để đừng bao giờ quên nỗi đau ấy…
Chúng ta tự hào bởi lịch sử dân tộc hào hùng và kiêu hãnh. Nhưng chúng ta cũng không thể quên những đau thương, mất mát của dân tộc mình. Những người đang sống hạnh phúc hôm nay không hẳn ai cũng nhớ tới nỗi khổ nhục kinh hoàng nhất trong lịch sử dân tộc Việt với hơn 2 triệu đồng bào đã chết trong sự đày đọa đến tận cùng của cái đói.
Acoustic Songbook
Track List
CD 1
1. Norah Jones – Come Away With Me (3:19)
2. Eva Cassidy – Songbird (3:42)
3. Dido – Thank You (3:39)
4. Coldplay – Trouble (4:33)
5. Pink Floyd – Wish You Were Here (5:22)
6. Crowded House – Four Seasons In One Day (2:48)
7. The Beach Boys – Surf’s Up (4:13)
8. Michael Andrews and Gary Jules – Mad World (3:02)
9. Air – All I Need (4:00)
10. Radiohead – Fake Plastic Trees (Live) (4:45)
11. R.E.M – The One I Love (Acoustic Version) (4:05)
12. Leonard Cohen – Suzanne (3:49)
13. Jeff Buckley – Hallelujah (6:54)
14. Kate Bush – The Man With The Child In His Eyes (2:39)
15. Don McLean – Vincent (3:59)
16. Janis Ian – At Seventeen (4:42)
17. Katie Melua – The Closest Thing To Crazy (4:13)
18. Charlie Hunter feat. Norah Jones – Day Is Done (4:16)
19. Jamie Cullum – High & Dry (4:54)
CD 2
1. John Lennon – Crippled Inside (3:49)
2. Eddie Cochran – Summertime Blues (1:55)
3. The Everly Brothers – Bye Bye Love (2:23)
4. Paul McCartney – Every Night (2:31)
5. Cat Stevens – Can’t Keep It In (3:01)
6. David Bowie – Andy Warhol (3:54)
7. David Gray – Late Night Radio (3:53)
8. The Waterboys – Fisherman’s Blues (4:22)
9. Turin Brakes – Painkiller (3:42)
10. Kirsty MacColl – Days (2:59)
11. XTC – Dear God (3:38)
12. Kings of Convenience – I Don’t Know What I Can Save You From (4:35)
13. Oasis – Half the World Away (4:22)
14. Joss Stone – Fell in Love With A Boy (Acoustic Version) (3:32)
15. Bobby Womack – California Dreamin’ (3:20)
16. Jose Feliciano – Light My Fire (3:36)
17. The Move – Beautiful Daughter (3:01)
18. Big Star – Thirteen (2:36)
19. Lindisfarne – Lady Eleanor (4:13)
20. Jim Croce – Time in a Bottle (2:26)
21. Minnie Riperton – Loving You (3:22)
22. Clifford T Ward – Home Thoughts From Abroad (3:18)
23. Buffy Saint Marie – Tall Trees In Georgia (3:33)
CD 3
1. Tim Hardin – Hang On To A Dream (2:05)
2. Colin Blunstone – Misty Roses (5:06)
3. Nick Drake – Pink Moon (2:02)
4. Bert Jansch – Black Waterside (3:44)
5. Davy Graham – Angi (2:25)
6. Jackson C. Frank – Blues Run The Game (3:32)
7. Ralph McTell – Streets Of London (4:07)
8. Ramblin’ Jack Elliott – Don’t Think Twice, It’s All Right (3:15)
9. Fred Neal – The Dolphins (4:04)
10. Joan Baez – Babe, I’m Gonna Leave You (2:39)
11. Pentangle – Light Flight (3:13)
12. Gordon Giltrap – Heartsong (5:01)
13. Al Stewart – On The Border (3:18)
14. Donovan – There Is A Mountain (2:34)
15. Duncan Browne – Journey (3:17)
16. Loudon Wainwright III – Dead Skunk (3:06)
17. John Fahey – The Yellow Princess (4:50)
18. Leo Kottke – Poor Boy (2:06)
19. John Renbourn – Nobody’s Fault But Mine (1:56)
20. Martin Carthy – The Harry Lime Theme (3:34)
21. Richard Thompson – 1952 Vincent Black Lightning (4:43)
22. Gordon Lightfoot – Gordon Lightfoot (3:05)
23. Bob Dylan – Dark Eyes (5:08)

POMONA là cái tên cái nhà gỗ trong rừng của tôi đang ở. Nguyên Hưng cứ tưởng tượng một buổi sáng thức dậy ở Phương Bối Am, lúc bảy giờ. Chim chóc hát vang rừng và ánh sáng tràn vào thành từng vũng lớn. Tôi đến đây vào một buổi tối; xe hơi len lỏi trên những con đường rừng thành ra không thấy gì. Sáng dậy, tôi giật mình vì tiếng chim hót, vì căn nhà gỗ và sự yên tĩnh mà đã hơn một năm nay tôi thiếu thốn. ..