Sách hay – Page 232 – Tài Liệu Mới – chia sẻ ebook- download free

Tài Liệu Mới - chia sẻ ebook- download free

Cùng xây dựng cách mạng công nghiệp 4.0

[wpdreams_ajaxsearchpro id=1]

Category: Sách hay

Để hiểu 8 bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc

ĐỂ HIỂU 8 BỘ TIỂU THUYẾT CỔ TRUNG QUỐC
Tác giả : Lương Duy Thứ.
Nxb Khoa Học Xã HộI, Nxb Cà Mau – 1990

Tám bộ tiểu thuyết cổ là :
– Tam Quốc chí.
– Thủy hử.
– Tây Du.
– Kim Bình Mai.
– Liêu Trai Chí Dị.
– Chuyện làng Nho.
– Đông Chu Liệt Quốc.
– Hồng Lâu Mộng.

được xem là những tác phẩm tiêu biểu của nền văn học cổ Trung Quốc.

Tác giả giáo sư Lương Duy Thứ, nguyên là Trưởng khoa Ngữ văn Trung Quốc Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh.

LỜI NÓI ĐẦU
Ngọn gió “đổi mới” dấy lên từ Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã mang lại nhiều thay đổi cho đời sống tinh thần toàn xã hội. Trong không khí đó, cánh cửa giao lưu văn hóa được rộng mở. Hàng loạt tác phẩm Đông Tây kim cổ được ấn hành. Cùng với các tác phẩm ưu tú của văn học Nga, Xô Viết, văn học Phương Tây, Văn học Ấn Độ và Ả rập, văn học Mỹ La Tinh… Các bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc lần lượt được tái bản. Từ Bắc chí Nam đâu đâu cũng có bán Tam Quốc, Thủy Hử, Tây Du, Liêu Trai Chí Dị, Hồng Lâu Mộng v.v… Và phải nói rằng, các bộ sách này rất ăn khách. Đó cũng là điều dễ hiểu. Không chỉ ngày nay mà rất lâu về trước, các gia đình khá giả Việt Nam đều mua sẳn một bộ truyện Tàu để khi rỗi rãi thì ngâm nga giải trí. Ăn khách vì đó là những viên ngọc quí chung đúc trí tuệ và tâm hồn cả một dân tộc. Các bộ Tam quốc, Thủy Hử, Tây Du đều trải qua một quá trình thai nghén và hoàn thiện trong dân chúng có đến sáu bảy trăm năm. Ban đầu là những mẩu chuyện lưu hành trong dân gian, kế đó là chuyện kể của các nghệ nhân kể chuyện đời Tống và kịch bản của các nhà viết kịch đời Nguyên. Đến khi các nhà văn gia công chỉnh lý và hoàn thiện thì nó đã chung đúc tài năng và tâm huyết của biết bao tác giả có tên và không tên. Không phải chỉ ở Việt Nam mà ở các nước Đông Nam Á, Đông Bắc Á, người dân bình thường cũng quen biết các tác phẩm này như thể người Ảrập quen biết Nghìn lẻ một đêm.
Còn Liêu Trai Chí Dị (Trung Quốc gọi là Đoản thiên tiểu thuyết) thì lại đưa ta vào một thế giới kì ảo, mới lạ khác thường. Trong cuộc đời đầy éo le trắc trở, người đọc có thể cùng với Bồ Tùng Linh hóa thân trong chốc lát để mơ màng, để hy vọng. Đọc Liêu Trai, thi sĩ Tản Đà đã phải thốt lên : Truyện Kiều bao nhiêu câu lục bát mà không câu nào giống câu nào ; Liêu Trai bao nhiêu truyện lớn nhỏ mà không truyện nào phảng phất truyện nào”.
Khi đọc Hồng Lâu Mộng, ta có cảm giác tác giả đã viết bằng tất cả nước mắt khóc cho số phận hồng nhan. Quả vậy, mười hai cô thiếu nữ xinh đẹp đất Kim Lăng (tác phẩm còn có tên là Kim Lăng thập nhị kim thoa) không cô nào thoát khỏi “bạc mệnh”. Cái tâm tư của Nguyễn Du : “Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như cũng chính là tâm sự của Tào Tuyết Cần khi ông hạ bút viết : “Đô Vân tác giả ai, Thùy giải kỳ trung vị ?”.
Chung qui, tiểu thuyết cổ Trung Quốc là những viên ngọc quí của kho tàng văn học phương Đông, có một sức sống kì diệu, chấp nhận được sự thử thách của thời gian và có khả năng vượt biên giới một bước, đi sâu vào đời sống tinh thần nhiều dân tộc.
Có điều, những tác phẩm này đều là sản phẩm tinh thần của lịch sử cổ trung đại, có những tư tưởng, những quan niệm xa lạ với đòi hỏi của cuộc sống hôm nay. Có thể tìm thấy khắp nơi tư tưởng mệnh trời của Nho giáo, tư tưởng yếm thế của Lão Trang, tư tưởng xuất thế của đạo Phật cũng như những quan niệm mê tín dị đoan trong việc lý giải các sự việc, các số phận.
Mặt khác, tiểu thuyết cổ Trung Quốc vốn bắt nguồn từ truyện Chí quái, Chí nhân, Chí dị, truyền kỳ xa xưa. Từ việc ghi chép những người, những việc quái dị đã hình thành một truyền thống khoa trương, phóng đại. Các nhân vật, đặc biệt là trong tiểu thuyết đời Minh, hầu như đều khác thường. Các sự việc miêu tả hầu như đều vượt quá tầm vóc hiện thực. Khuynh hướng đó làm nên phẩm chất anh hùng của tác phẩm và nhà Hán học Xô Viết V.I Sêmanốp đã gọi tiểu thuyết Minh là “Tiểu thuyết anh hùng” để phân biệt với “tiểu thuyết đời thường” ra đời vào thời Thanh. Nếu nhìn từ góc độ sự phát triển của một nền văn học thì đến “tiểu thuyết đời thường” phẩm chất hiện thực của tác phẩm mới được khẳng định đầy đủ hơn, bức tranh cuộc sống càng gần gũi hơn, con người thực hơn.
Chung qui, khi đọc tiểu thuyết cổ Trung Quốc cần đặt nó tronq phạm trù văn hóa Trung cổ để tiếp thu đưọc hết cái hay cái đẹp của tác phẩm, để những viên ngọc quí của văn học phương Đông có thể thực sự trở thành món ăn tinh thần bổ ích cho chúng ta.
Tập sách nhỏ này sẽ giúp bạn đọc một cái nhìn tổng quát về tiểu thuyết cổ Trung Quốc (trong đó có những bộ được gọi là cổ điển như : Tam Quốc, Thủy Hử, Tây Du, Hồng Lâu Mộng với hàm nghĩa chuẩn mực) như một loại hình văn hóa Trung cổ (chương I và chương X) đồng thời có được những kiến thức cụ thể về các tác giả và các tác phẩm tiêu biểu rất quen thuộc với chúng ta (các chương còn lại). Một số bài viết đã in đầu các bộ truyện, nay sửa chữa bổ sung cho thích hợp với cơ cấu chung của tập sách. Mong muốn của tác giả là đưa đến cho bạn đọc rộng rãi một cuốn “Hướng dẫn đọc sách” gọn nhẹ và kịp thời để có thể phân biệt trắng đen thật giả trên thị trường tràn ngập sách báo hôm nay. Được như vậy là mãn nguyện, và càng mãn nguyện hơn nếu được bạn đọc góp cho những ý kiến phê bình, chỉ giáo.
Hà Nội, ngày 15-8-1989
Lương Duy Thứ

MỤC LỤC.
Lời nói đầu.
I. Thời đại hoàng kim của tiểu thuyết.
II. Tam Quốc – lá cờ đầu của tiểu thuyết lịch sử.
III. Giá trị nhận thức của Thủy Hử.
IV. Tây Du – một tác phẩm lãng mạn độc đáo.
V. Đông Chu liệt quốc – kho tàng điển cổ văn chương.
VI. Liêu trai chí dị – một cá tính sáng tạo mới mẻ.
VII. Kim Bình Mai – một tác phẩm tả chân hiện thực.
VIII. Chuyện làng nho – một tác phẩm châm biếm sâu sắc.
IX. Hồng lâu mộng – thành tựu tiêu biểu của tiểu thuyết cổ điển.
X. Mấy vấn đề thi pháp tiểu thuyết chương hồi.
Thư mục sách tham khảo.

Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung

Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung

Đỗ Long Vân

Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung là tên một cuốn tiểu luận dày hơn 300 trang, của Đỗ Long Vân. Cuốn sách nổi tiếng ngay sau khi được xuất bản vào năm 1967. Cuốn sách bị cấm tại Việt Nam từ sau sự kiện 30 tháng 4, 1975 cho đến năm 2000, khi nó được in lại trong một tuyển tập. Trước đó tập tiểu luận này cũng được đăng rải rác trên mạng với lời bình của Nguyễn Quốc Trụ.
Cuốn tiểu luận được viết bằng bút pháp ấn tượng, với tầm nhìn sâu rộng và những phân tích tỉ mỉ, nên nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh của người đọc. Nguyên Sa đánh giá cao tác phẩm này, còn Bùi Giáng thì tỏ ra hết sức khâm phục, ông thường nhắc đến cuốn sách trong các bài luận kiếm hiệp của mình như một đỉnh cao khó vươn tới.
Cuốn Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung không xét tới bộ truyện ưu tú Lộc Đỉnh Ký, vì khi ấy bộ truyện này chưa ra đời. Tập sách chỉ xoay quanh Thiên long bát bộ, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp, Ỷ thiên Đồ long ký, với những phân tích về võ công, về nội lực, về tính cách nhân vật và những triết lý ẩn chứa trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung. Ở đoạn mở đầu, Đỗ Long Vân tỏ ý muốn tìm ra câu giải đáp cho cái gọi là “hiện tượng Kim Dung” ở khắp miền Nam Việt Nam thời ấy.
Sách được xuất bản lần đầu tiên năm 1967 in tại nhà in Trình Bày, Sài Gòn.

Hồ sơ mật Liên Xô

HỒ SƠ MẬT LIÊN XÔ

Trọng Phụng và Văn Toàn biên soạn
NXB Công An Nhân Dân 2006
Khổ 14,5 x 20,5. Số trang : 583
Thực hiện ebook : hoi_ls

Hồ sơ mật Liên Xô là cuốn sách được biên soạn dựa vào những tư liệu mới được công khai, những thư từ từng giấu kín, những tập hồi ký bị cấm lưu hành trong thời kỳ Đại Nguyên soái Stalin lãnh đạo Nhà nước Liên Xô. Nội dung sách bao gồm 12 chuyên án hình sự phức tạp nhưng chung một đề tài chuyên quyền, lộng hành, tranh giành ngôi vị độc tôn, tham vọng trở thành thần tượng. Những mưu mô ám muội, những toan tính tinh vi, những thủ đoạn tàn bạo được sử dụng chỉ nhằm loại trừ phe phái đối lập để ung dung ngồi vào chiếc ghế cao nhất trong chính quyền hoặc tiêu diệt những nhân vật lỗi lạc nổi trội để không còn ai hơn mình.

Mọi ý đồ đều xuất phát từ Điện Kremli, chủ mưu là những “chiến hữu thân cận nhất” từng đồng cam cộng khổ thời xây dựng chính quyền Xô Viết và thời nội chiến. Không thể không kể đến sự đồng lõa ấy là tính cả tin, sự buông lỏng và cả thói vô trách nhiệm của một tập thể nắm quyền lực tối cao.

“Bạo chúa” có “gian thần” phò tá thì âm mưu ám muội nào cũng thực hiện được.

Công cụ của “bạo chúa” là “gian thần”, công cụ của “gian thần” là cơ quan quyền lực Chêka, các sát thủ chuyên nghiệp và những gã bác sĩ không có lương tâm nằm trong Cục Bảo vệ sức khoẻ lãnh tụ. Hành vi giết người mà dựa trên tiêu chí đạo đức “Kẻ thù của nhân dân “, “Tập đoàn phản cách mạng hoạt động chống nhân dân” thì nạn nhân rất khó tự bảo vệ và dễ ru ngủ tính cảnh giác của nhân dân.

Chỉ một chiếc ghế bành bọc nhung đỏ trong Điện Kremli mà Trôtxki và Stalin đều nhăm nhe, nhưng thế lực Stalin mạnh hơn, tính tàn bạo kiểu vua chúa Trung cổ ở Stalin thể hiện táo tợn, quyết đoán mưu mẹo hơn nên Stalin thắng.

Thời kỳ Stalin cai trị Liên Xô tồn tại một xã hội bưng bít, một xã hội thiên đường hoang tưởng, bắt đầu từ việc thần thánh hoá một cá nhân, thần bí hoá và không có cá tính hoá một cá nhân. Niềm vui, sở thích và thái độ của cá nhân ấy là những bí mật quốc gia đặc biệt quan trọng. Đó là tệ sùng bái cá nhân. Tệ sùng bái cá nhân tồn tại được phải dựa trên cơ sở loại trừ những người không cùng phe cánh và những người tài giỏi hơn. Nếu ai đó bị ông ta coi là kẻ thù thì không thể thay đổi được. Nạn nhân của tệ sùng bái cá nhân là những tướng lĩnh công huân, những vị lãnh đạo lão thành, các chính trị – kinh tế gia tài giỏi. Cơ quan đàn áp của Stalin ngụy tạo những chứng cớ về tội danh “Kẻ thù của nhân dân”, “tập đoàn phản cách mạng hoạt động chống Liên Xô” để tiến hành những cuộc tàn sát, thanh trừng bất chấp đạo lý phi nhân tính.

Thể chế quốc gia dù rõ ràng, chặt chẽ mà người chấp hành thiếu tinh thần trách nhiệm đã có tác hại lớn.. Nếu vin vào thể chế, nấp sau thể chế để làm bậy thì sự ngang ngược ác hiểm càng đáng sợ hơn.

Lênin bị ám sát, “đồ đệ thân tín” của Người liền mượn gió bẻ măng, dựa vào việc chữa bệnh mà dùng thuốc phá hoại sức khoẻ của Người.

Có thể nói ẩn trong hào quang của vĩ nhân là những bi kịch – bi kịch quyền lực, bi kịch tình cảm. Sau khi từ trần, người sáng lập Nhà nước công nông đầu tiên của xã hội loài người bị các “đồ đệ” của mình bài xích khéo:

Stalin tâng bốc Lênin là nhà chuyên chính vô sản cứng rắn, thẳng tay với kẻ thù … Lời tuyên bố này ngầm mách bảo cho mọi người biết “Lãnh tụ không có lòng khoan dung độ lượng”, đồng thời lại có tác dụng biện hộ cho những quyết định tàn bạo mà sau này Stalin thể hiện với các đồng chí của ông.
Khơrútsốp có những phát biểu vô ơn phủ nhận vai trò lịch sử của Lênin, xem Lênin như là một nhà cải cách máy móc bảo thủ “Chỉ biết bảo nông dân mùa này nên trồng cây gì”.

Brêgiênhép nhìn nhận Lênin như là “ông cụ từ thiện hào nhoáng bên ngoài”.
Người chết không thể tự biện hộ nên thoải mái chỉ trích, thậm chí thoá mạ.
Lênin mất đi, những phụ tá đắc lực nhất, thân thiết nhất của Người – những nhân vật góp công sức xây dựng tạo nên Nhà nước công nông bị bức hại dần dần, những cuộc thanh trừng vô ơn rất tàn bạo đó chỉ nhằm nâng cao uy tín cho người kế vị. Số phận Stalin cũng vậy, nó như một minh chứng cho luật nhân quả.

Bêria – cánh tay phải của Stalin, người chỉ đứng dưới một người mà trên cả muôn người đã ký một quyết định mang tính chất như một “lệnh tiêu diệt” tạo tiền đề cho việc ông ta mưu hại cấp trên của mình nhưng lại tỏ ra quan tâm săn sóc sức khoẻ cho Đại Nguyên soái: “Khi lãnh tụ bị ốm phải báo cho ủy viên Nhân dân An ninh (Bêria) biết, khi ủy viên Nhân dân An ninh có mặt bên bệnh nhân mới được phép gọi bác sĩ”. Kết cục là: Stalin bị ngất, các “bề tôi trung thành”, các “chiến hữu thân cận” vẫn ung dung: “Các người hoảng loạn nỗi gì, chẳng thấy lãnh tụ đang ngủ đó sao”. Mười giờ sau họ mới “hoảng hốt” gọi bác sĩ đến cấp cứu !

Gấp cuốn sách lại mà như hiện ra toàn cảnh bức tranh xã hội của Liên Xô thời Stalin thoả sức dọc ngang. Lời nói của ông là pháp luật, sinh mạng con người không được coi trọng, nguyện vọng của con người bị xem nhẹ mới thấy lời nói sâu sắc, thấm đượm đạo lý nhân văn của nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười: “Từ dân, do dân, vì dân”. Hiểu như thế thì chủ nghĩa cá nhân không còn đất sinh tồn.

Hồ sơ mật Liên Xô là cuốn sách tham khảo quý.
Nhà xuất bản Công an Nhân dân trân trọng giới thiệu cuốn sách với Quý vị độc giả.

Hướng dẫn điều trị các bệnh gà

Cuốn sách nhằm giới thiệu về các triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trị các bệnh ở gà, gồm 8 loại bệnh thường gặp như: Bệnh nhiễm trùng đường hô hấp. Bệnh tạo khối u. Bệnh virus. Bệnh vi khuẩn v…v… Đưa ra các căn bệnh : Nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng, bệnh tích, phòng và trị bệnh.

_ Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính Mycoplamosis.
_ Bệnh coryza(Bệnh sưng phù đầu).
_ Bệnh nấm phổi (Aspergillosis).
_ Bệnh Newcatxon (Newcastle disease-ND).
_ Bệnh viêm phế quản truyền nhiểm (ìnfectiou Bromchitis –IB).
_ Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ìnfectiou larygottaccheitis-ILT).
_ Bệnh cúm gà (Avian influenza).
_ Bệnh lơ-cô-leucosis.
_ Bệnh marek.
_ Bệnh viêm gan thể vùi (indusion body hepattes) Bệnh thiếu máu truyền nhiểm.
_ Bệnh giảm đẻ (hội chứng giảm đẻ:Egg drop syndrome’76).
_ Bệnh đậu gà(Fowl pox).
_ Bệnh viêm não truyền nhiễm.
_ Bệnh Gumboro(IBD).
_ Bệnh tụ huyết trùng gà.
_ Bệnh thương hàn, phó thương hàn. Bạch lị.
_ Bệnh E.coly ở gà.
_ Bệnh cấu trùng.
_ Bệnh giun đũa.
_ Các Bệnh giun tròn nội kí sinh.
_ Bệnh sán dây.
_ Bệnh sán lá.
_ Bệnh nấm đường tiêu hóa.
_ Bệnh thiếu vitamin.
_ Bệnh thiếu khoáng.
_ Bệnh mổ cắn (Calibalism).

Xứ đàng trong năm 1621

XỨ ĐÀNG TRONG NĂM 1621

Cristophoro Borri
Hồng Nhuệ-Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị dịch, chú thích

Một tài liệu quí và quan trọng về lịch sử, văn hóa, tôn giáo của nước ta vào đầu thế kỷ 17 đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Viết bằng tiếng Ý và ấn hành năm 1631, cuốn này đã được dịch sang tiếng Pháp, tiếng La-tinh, tiếng Hà Lan, tiếng Đức, tiếng Anh. Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị dịch và chú thích bản Việt ngữ

MỤC LỤC
Chương 1: Về quốc hiệu, vị trí và diện tích
Chương 2: Về khí hậu và đặc tính lãnh thổ Đàng Trong
Chương 3: Đất đai phì nhiêu
Chương 4: Voi và tê giác
Chương 5: Về tính tình, phong hóa, tục lệ người Đàng Trong, cách sống, cách ăn mặc và thuốc men của họ
Chương 6: Về hành chính và dân chính nơi người Đàng Trong
Chương 7: Lực lượng của chúa Đàng Trong
Chương 8: Về thương mại và các hải cảng ở xứ Đàng Trong
Chương 9: Quan Trấn Thủ Quy Nhơn đưa các cha Dòng Tên Đến tỉnh ông cai quản và cho dựng một trú sở và một nhà thờ cho các Cha
Chương 10: Quan Trấn Tỉnh Quy Nhơn qua đời
Chương 11: Thiên Văn
Chương 12: Đời Sống Tinh Thần ở Đàng Trong
Chương 13: Về xứ Đàng Ngoài
Kết Luận

LỜI GIỚI THIỆU
Vào đầu thế kỷ 17, nghĩa là trước đây gần 400 năm, đã có một người Ý tới Đàng Trong. Trong gần năm năm trời, ông đã xem xét và nhận định về đất nước và con người Việt Nam. Rồi vào năm 1621-1622 ông đã viết một bản tường trình rất lạc quan, rất trìu mến.
Không phải chỉ mới trong mấy chục năm nay, người ta mới biết nước Việt Nam là một rừng vàng biển bạc. Trong bản tường trình, tác giả đã nói tới đất đai phì nhiêu, tới rừng vàng có nhiều cây quý như lim, như trầm hương, kì nam, hai thứ sau này được bán ra nước ngoài. Người Nhật mua về làm gối, người Malaixia buôn về làm củi hỏa thiêu theo tôn giáo của họ. Còn về biển thì biết bao thứ cá đủ loại, nhất là ở một miền ven biển, có rất nhiều thứ chim người ta lấy tổ làm thức ăn rất quý, và đó cũng là một món xuất khẩu rất được trọng, một món ăn của bậc đế vương. Tác giả đã đề cập tới món ăn quốc hồn quốc tuý là nước mắm. Ông so sánh: người Việt Nam dự trữ nước mắm trong nhà như thể người châu Au dự trữ rượu trong hầm lạnh để dùng cho cả năm.
Đất đai Việt Nam sinh sản ra thứ lúa mỗi năm ba mùa, đủ và dư cho người dân dùng. Người ta còn trồng dâu chăn tằm và tơ lụa thì vô cùng dồi dào đến nỗi những người lao động khuân đất làm đồng cũng mặc toàn đồ tơ lụa. Thứ này còn bán qua các nước lân cận, sang cho tới Tây Tạng. Ông cũng không quên những cách sinh sống riêng của chúng ta như tục uống trà, tục ăn trầu. Ông nói: người có một vườn cau thì không khác ở Châu Au, người ta có được vài ba nương cây ô liu.
Về các gia súc và dã thú ông kể khá nhiều, nhưng đặc biệt ông tả con tê giác và cách đi săn tê giác. Ông rất có cảm tình với voi: chính ông đã tiếp xúc với quản tượng, chính ông đã nhiều lần được cưỡi voi trong những quãng đường rừng, đường mé biển. Ông cũng biết một con voi người ta gọi tên nó là Nhơn.
Về các cây ăn trái, ông cũng khá tinh tường, đặc biệt ông thích thú được dùng trái sầu riêng mà ông coi như một món ăn tráng miệng vào bậc sang nhất Châu Au. Ông nói tới với một xác tín và yêu mến. Ông còn biết mấy món ăn khá đặc biệt, thí dụ ngoài món ăn yến đế vương, còn có món tim gan tê giác, món tắc kỳ nướng trên than hồng, những món mà ông chỉ nhìn chứ không dám động tới.
Về văn hóa phong tục, tuy không đồng ý về nhiều điểm, ông nhận thấy có rất nhiều điều tích cực có thể làm cho người Việt Nam dễ dàng tin theo Kitô giáo. Ông coi Khổng Tử như một nhà hiền triết trứ danh Hy Lạp, Aristote. Cũng vậy, ông đề cập tới nhiều giáo lý uyên thâm của Phật tổ và cũng coi Đức Phật như một Aristote bên phương Đông. Tựu trung ông cho rằng người Việt Nam có hai tin tưởng căn bản này: tin có một thượng đế thưởng phạt và tin linh hồn bất tử.
Về con người Việt Nam, ông nhận thấy họ hiền lành, hiếu khách. Họ còn có lòng quảng đại: không bao giờ họ từ chối người đã cất lời xin họ. Bao giờ họ cũng lịch thiệp và hòa nhã.
Về học thuật, người Việt Nam cũng có nhiều trường dạy học. Họ chuyên chú học sách thánh hiền. Tuy họ không có trường đào luyện y khoa và dược khoa, nhưng họ có những lương y rất thời danh, có những lá thuốc rất hiệu nghiệm. Chính ông đã có cơ hội nhờ tay khéo léo các thầy thuốc Đông y chữa cho lành mạnh.
Về chính thể và võ bị thì tác giả nói là người Việt Nam không như người Trung Hoa quá chuyên chú về ngành văn, cũng không giống người Nhật hiếu võ: tuỳ trường hợp, tuỳ hoàn cảnh mà chúng ta trọng lúc thì võ khi thì văn. Ông cũng nói về lực lượng của chúa Đàng Trong lúc đó, sự việc một công chúa Việt Nam kết hôn cùng vua Campuchia, và dĩ nhiên sự bang giao thân thiện giữa hai nước làng giềng, việc gửi phái đoàn ngoại giao tới nước bạn.
Chúng tôi không nói hết những thích thú khi đọc bản tường trình này, những thích thú mà từ gần bốn thế kỷ nay, các độc giả đều cảm nhận, nhận thấy. Nhưng có vài ba nét đặc biệt nơi tác giả làm cho chúng tôi rất yêu mến con người đó. Thứ nhất, ông nói về tục đi chân không của người Việt Nam, và nếu có đi giày thì cũng chỉ là một thứ dép có quai rất thô sơ. Vì không ai biết đóng giày như ở Châu Au nên ông đành phải đi chân không trên đường cát sỏi cũng như bùn lầy. Thế rồi cũng quen đi đến nỗi khi trở về Macao hay Châu Au ông thấy khó chịu phải đút chân vào ống giày. Không còn là một thích thú, trái lại còn là một cái gì lòng thòng vướng víu. Thứ hai, có nhiều người ngoại quốc tới Việt Nam và rất khổ sở vì thiếu bánh mì. Đàng này ông cũng làm quen với cơm, cho tới khi trở về Châu Au, ông thấy thiếu thốn và khổ sở vì thiếu cơm. Thứ ba, khi trở về Châu Au ông đã đem theo một cây gọi là cây đại hoàng để làm giống, nhưng vì thay đổi khí hậu, nên lúc về tới nơi thì nó đã biến chất và không thể cho ông thí nghiệm như lòng ông mong mỏi.
Mấy điều trên đây tỏ ra tính tình ông rất dễ thương và ông rất dễ chinh phục được lòng người. Cũng phải nói là vì có chút vốn liếng khoa học, nhất là về thiên văn học, nên ông đã nổi tiếng từ nơi nhà chúa Đàng Trong lúc đó cho tới các bậc cận thần, từ chúa Sãi cho tới hoàng tử Kỳ, từ các nho gia cho tới các vị sãi.
Một việc nữa phải nhắc qua ở đây là ông đã cố gắng học tiếng Việt, tuy không thạo lắm, nhưng ông cũng hiểu biết đủ để giảng giáo lý Kitô. Có một vài câu chữ quốc ngữ trong bản tường thuật của ông cho chúng ta biết: ngay từ những năm 1618-1620 đã có một khởi đầu hình thành thứ chữ này. Cái đặc biệt ở nơi ông, cái làm cho khác với De Rhodes sau này, đó là ông đã phiên âm tiếng Việt theo chữ viết của người Ý, chứ không phải người Bồ. Rõ ràng ông phiên âm và viết gn chứ không nh như nho (trái nho) ông viết là gnoo, nhỏ (trẻ nhỏ) ông viết là gno. Cũng vậy xin ông viết scin, bởi vì theo tiếng ý nếu viết cin thì đọc uốn lưỡi còn nếu viết sc thì đọc cũng như x.
Về bản thân ông, người ta được biết, ông sinh tại Milan (Ý) năm 1583, nhưng không rõ vào tháng nào ngày nào. Trong cuốn tường trình, ông viết: Tôi tới xứ Đàng Trong vào chính ngày tôi sinh ra ở trần gian này và suýt nữa là ngày tôi bỏ về trời. Nhưng là ngày nào tháng nào thì ông không nói.
Vào Dòng Tên năm 1601, Ông qua An năm 1615 và tới Đàng Trong, cải trang làm bồi tàu năm 1618. Ông ở đó cho tới năm 1622 thì về Macao.
Ở Bồ, ông giảng dạy tại Đại học Coimbra về môn thiên văn và toán học. Ông lại sành về ngành hàng hải và viết một cuốn sách về nghệ thuật đi biển bằng tiếng Bồ. Ông cũng viết chưa xong cuốn “Chỉ dẫn hành trình đi An”. Nhưng cuốn sách làm sôi nổi dư luận là cuốn: Luận về ba tầng trời: khí, hành tinh, thiên khung. Thế là ông bị gọi về Roma. Ông bất mãn với Dòng Tên và xin ra khỏi Dòng năm 1632 để vào Dòng Bernadins de Sainte Croix. Nhưng sau ba tháng, ông lại xin bỏ Dòng này để vào Dòng Citeaux. Nhưng sau mấy tuần ông bị Dòng này trục xuất. Vì thế ông làm đơn kiện. Kết quả là ông được kiện, nhưng khi ông đi đưa tin cho một giáo chủ bạn thân của ông, thì ông bị nạn. Người ta đem ông về nhà và ông đã tắt thở khi được đem lên giường ngày hôm sau. Đó là ngày 24 tháng 5 năm 1632 lúc ông không thuộc Dòng Tên, cũng không thuộc Dòng nào, cũng không ở tu viện nào, mà lại ở nhà một người thân.
Ông mất đi, nhưng tác phẩm về Xứ Đàng Trong còn truyền tụng cho tới ngày nay và được độc giả nhiệt liệt hoan nghênh. Viết bằng tiếng Ý và ấn hành năm 1631, cuốn này đã được dịch sang tiếng Pháp, tiếng Latinh, tiếng Hà Lan, tiếng Đức, tiếng Anh vào những năm 1631-1633. Sau ba thế kỷ, ông Bonifacy năm 1931 dịch lại sang tiếng Pháp và cho in ở tạp chí Đô thành Hiếu cổ Huế tháng 7-12 năm 1931.
Hồng Nhuệ – Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị

Trí tuệ Lão Tử

TRÍ TUỆ LÃO TỬ

Đỗ Anh Thơ (Biên soạn, chú giải và bình luận)

NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG XÃ HỘI 2006

(Tìm hiểu về lão tử)

Soạn giả trích một số đoạn trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử, có phiên âm, chú giải, dịch và bình. Cái khác lạ là ông bình theo kiểu “hiện đại”, có công nghệ thông tin, có thị trường chứng khoán, có cả World Cup…Cũng là một cách nhận định.

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU
1. Bản thể của Đạo
2. Phúc Họa đi liền nhau, đó là lẽ tự nhiên
3. Thế giới biến đổi như cái bóng theo mình
4. Lấy mềm thắng cứng, lấy yếu thắng mạnh
5. Trong cái không làm gì (vô vi) thai nghén cái làm lớn (đại tác vi)
6. Nắm và buông công việc ở đời
7. Không chiếm công lại là có công lớn
8. Quy luật vơi đầy
9. Giữ cho lòng trống rỗng.
10. Được mất chỉ một tiếng cười mà thôi
11. Có thể và không có thể.
12. Biết người không bằng biết mình.
13. Không làm việc quá độ
14. Làm cho dao bớt sắc
15. Người biết nói không biết rộng , người biết rộng nói không biết
16. Hòa cùng ánh sáng và cát bụi.
17. Im lặng là vàng.
18. Sau thành trước
19. Biết dùng sức người khác.
20. Như nước mềm nhưng mạnh
21. Tự tạo ra thiên thời với nhân hòa.
22. Coi trọng thiên hạ hơn thân thể mình.
23. Đầy thì phải xả bớt
24. Chỉ cần có tình thì không sợ đời không hiểu
25. Tháp núi càng nhọn, càng dễ đổ.
26. Việc khó làm từ dễ, việc lớn làm từ nhỏ
27. Dành những khoảng trống để phát triển.
28. Sống thảnh thơi, chết bình thản.
29. Nhìn từ chỗ vi diệu
30. Loại bỏ dục niệm
31. Thấy đầu mà không thấy đuôi
32. Uyên sâu không dễ nhận biết
33. Không bị kích nộ
34. Đục mà hóa trong.
35. Biết bổ túc hay chế ngự bản thân mình.
36. Cuộc sống hư tĩnh.
37. Sự sống và cái chết.
38. Sự quay trở về gốc.
39. Không kể công lao
40. Lời nói đẹp, hành động đẹp
41. Đỉnh cao của học: Sống vô lo, hòa mình với tự nhiên
42. Như sóng gợn yên tĩnh ngày đêm
43. Xem thường lợithì có gì phải tranh giành nhau
44. Mưa bão dữ dội thì sẽ chóng tan
45. Học theo trời đất
46. Đi đường giỏi thì không để lại dấu tích
47. Không vì mình thì mới dài lâu
48. Giàu sang không kiêu.
49. Dục vọng đánh mất thân mình.
50. Ngưỡng cửa cuộc sống.
51. Người bền bỉ đi đường là người có chí
52. Tấm lòng nhân hậu của con người.
53. Ý chí luyện từ việc nhỏ.
54. Giữ chữ tín
55. Từ thân mình mà xét việc làng nước.
56. Đạo sinh đức dưỡng.
57. Ít riêng tư ham muốn.
58. Thận trọng từ đầu.
59. Mênh mông sông biển.
60. Cuộc sống không giả tạo.
61. Biết sửa sai lầm.

Nguyên tắc biên soạn.
1. Để cho dễ đọc, quyển sách này được soạn giả viết theo cách tuyển của Diệp Châu (tác giả Lão tử đích trí tuệ), không lấy hết tất cả các phần chương cú trong Đạo đức kinh mà chỉ lấy từng đoạn, xem như là những từ khóa (keyword) để chú giải, dịch nghĩa mang tính chất tham khảo và phê phán những cái sai của các tài liệu đã có. Phần bình đề cập tới tính thực tiễn của xã hội hiện đại như tên đã đặt cho quyển sách.
2. Tài liệu tham khảo gồm những bản xưa nhất như của Vương Bật đời Tấn, Hà Thượng Công, Lục Đức Minh (đời Đường) đến các bản của Legg (Anh), Suzuki (Nhật), Diệp Kim Sơn, Viên Phổ (Đài Loan), Thu giang Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê (Việt Nam) . . . để mong làm sáng tỏ hơn về khái niệm, cách hiểu và những nhầm lẫn của người đi trước.
3 . Cách làm việc tuy nghiêm túc nhưng vì thời gian, kiến thức và phương tiện có hạn nên không thể tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót.
Mong được các vị thức giả xa gần chỉ giáo.

Nuôi Cá Nước Ngọt – Hỏi Đáp Nuôi Cá Trong Ruộng Lúa (Quyển 3)

Cuốn sách “Nuôi Cá Nước Ngọt – Hỏi Đáp Nuôi Cá Trong Ruộng Lúa (Quyển 3)” giới thiệu nội dung:
Câu hỏi 1: Ruộng Nào Nuôi Được Cá?
Câu Hỏi 2: Loài Cá Nào Nuôi Được Trên Ruộng?
Câu Hỏi 3: Muốn Nuôi Được Cá Trên Ruộng, Cần Phải Làm Gì?
Câu Hỏi 4: Làm “Nhà” Cho Cá Như Thế Nào?
Câu Hỏi 5: Đào Mương Sâu Bao Nhiêu Là Vừa?
Câu Hỏi 6: Diện Tích Mương, Ao, Chuôm Trong Ruộng Bao Nhiêu?
Câu Hỏi 7: Cách Kiến Thiết Đồng Ruộng Để Nuôi Cá Kết Hợp.
Câu Hỏi 8: Thả Cá Giống Nuôi Trên Ruộng Như Thế Nào?
Câu Hỏi 9: Loại Cá Và Quy Cách Thả Cá?
Câu Hỏi 10: Ngoài Cá, Trên Ruộng Còn Có Thể Nuôi Được Đối Tượng Thủy Sản Nào Khác Không?
Câu Hỏi 11: Khi Nuôi Cá Trên Ruộng, Có Thể Phun Thuốc Trừ Sâu Không?
Câu Hỏi 12: Có Thể Ương Cá Giống Trên Ruộng Không?
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Sự khốn cùng của Chủ nghĩa lịch sử

Sự khốn cùng của Chủ nghĩa lịch sử

Karl Popper

” Để tưởng nhớ đến vô số đàn ông, đàn bà, và trẻ con thuộc mọi tín ngưỡng, mọi dân tộc hay chủng tộc, những người đã trở thành nạn nhân của lòng tin phát-xít và cộng sản vào các quy luật không thể lay chuyển được của vận mệnh lịch sử.” -Tựa
Bạn đọc cầm trên tay cuốn thứ chín của tủ sách SOS2, cuốn Sự khốn cùng của Chủ nghĩa lịch sử của Karl Popper, nhà triết học lớn nhất thế kỉ 20. Ông nổi tiếng về những nghiên cứu phương pháp luận khoa học. Cuốn Logik der Forschung [Logic Nghiên cứu] được xuất bản đầu tiên năm 1934 và được dịch sang tiếng Anh với tiêu đề Logic of Scientific Discovery đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phương pháp khoa học của các khoa học tự nhiên. Cuốn sách này cũng có xuất xứ từ các năm 1930 và lần đầu tiên được xuất bản vào các năm 1944, 1945. Cuốn sách này chỉ ra rằng: Lòng tin vào vận mệnh lịch sử chỉ là sự mê tín, và không thể có sự tiên đoán nào về diễn tiến của lịch sử loài người bằng các phương pháp khoa học hay duy lí khác nào. Học thuyết tin vào vận mệnh lịch sử và tin vào việc có thể tiên đoán diễn tiến của lịch sử, và trên cơ sở đó, có thể cải biến xã hội một cách tổng thể cho phù hợp với các quy luật này, được ông gọi là chủ nghĩa lịch sử (historicism). Trước khi phê phán chủ nghĩa lịch sử, trong hai chương đầu, ông mô tả các thuyết lịch sử chủ nghĩa, và chỉ sau đó, trong hai chương cuối, ông mới phê phán nó. Tức là, trong hai chương đầu, ông đi mô tả nghiêm ngặt điều mà ông sẽ tấn công trong hai chương cuối. Cách làm này có điểm hay: Phê phán của ông sẽ rất chặt chẽ, rõ ràng là nó phê phán cái gì; chứ không như nhiều phê phán mà chúng tathường bắt gặp, không nêu tường minh điều muốn phê phán là gì, nên dễ dẫn đến nhầm lẫn. Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm: Sẽ có thể có người cho rằng, điều ông phê phán thực ra không có thực, mà chỉ do ông tạo ra. Phán xét cuối cùng là của bạn đọc. Lời đề tặng của ông có thể gây sốc cho một số bạn đọc Việt Nam, và có lẽ chính vì nó và vì nội dung của tiểu luận này mà ở Việt Nam (và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây), tác phẩm này của Popper được ít người biết đến. Tuy vậy, đọc kĩ, chúng ta sẽ biết được rất nhiều vấn đề mà đến nay chúng ta chưa biết hay không được phép biết, và có thể giúp chúng ta có phương pháp thích hợp trong việc thực hiện cải cách xã hội, một việc phải được tiến hành liên tục, theo cách dần dần, từ từ, từng phần một. Chúng ta có thể nhìn lại quá khứ của mình, của các nước xã hội chủ nghĩa, có thể học được từ các sai lầm, thử làm và chắc chắn sẽ vấp phải sai lầm khác, phát hiện ra sai lầm mới, sửa chúng và lại thử tiếp. Đó là cách tiếp cận thử-và-sai, cách tiếp cận khoa học có hiệu quả không chỉ trong các bộ môn khoa học tự nhiên và cả trong các bộ môn khoa học xã hội. Cuốn sách có thể bổ ích cho các học giả, các nhà hoạch định chính sách, và tất cả những ai quan tâm đến những vấn đề phương pháp luận của các bộ môn khoa học xã hội.”
Dịch giả: Nguyễn Quang A

Kỹ thuật nuôi cá Bống tượng

Cá bống tượng có tên khoa học là Oxyeleotris Marmoratus, kích thước lớn nhất trong họ cá bống nước ngọt. Cá nhỏ, sống thành đàn trong sông ngòi, kinh, rạch, ao, đìa hoặc hồ chứa. Cá trưởng thành sinh sản ở những nơi có nước chảy. Cá có thể sống được ở vùng nhiễm phèn, độ pH = 5,5 và có độ mặn không quá 13%. Hàm lượng oxy hòa tan >1 mg/ lít. nhiệt độ thích hợp 26 – 32oC.
Cá bột sau khi sử dụng hết noãn hoàng sẽ ăn trực tiếp động, thực vật phù du hay thức ăn có kích thước nhỏ, mịn như: bột đậu, bột sữa, lòng đỏ trứng… Đối với cá hương (cá bống con có kích thước từ 1,5cm – 2,0 cm): thức ăn là động vật phù du, trùn quế, muỗi lá… Đối với cá trưởng thành: thức ăn là cá nhỏ, tôm, tép, cua, ốc, hạt lúa, cám. Cá hoạt động tích cực vào ban đêm để tìm mồi, ban ngày trú ẩn ở hang hốc, gốc cây ven bờ hoặc vùi xuống bùn. Cá bống tượng có tốc độ tăng trưởng trung bình chậm. Để có cá thương phẩm từ đạt từ 300gr/con trở lên, cá giống có trọng lượng 100gr/con cần nuôi trong ao từ 5–8 tháng, nuôi trong bè từ 5–6 tháng.
Cá bống tượng thành thục ở tuổi trên dưới 1 năm. Trong tự nhiên, cá thành thục có kích cỡ từ 100-200gr/ con trở lên. Mùa sinh sản tự nhiên của cá từ tháng 04 đến tháng 10, rộ nhất vào tháng 5 đến tháng 6. Cá đực và cá cái bắt cặp và đẻ trứng dính vào các hang, hốc đá, bọng cây, các vật hình ống và có thể đẻ nhiều lần trong năm. Cá đực canh tổ và tham gia ấp cùng cá cái; cá cái dùng đuôi quạt nước để cung cấp oxy cho trứng nở. Sức sinh sản của cá bống tượng khá cao, 01 kg cá cái có thể đẻ được từ 100,000-200,000 trứng.

Tôn tử binh pháp

TÔN TỬ BINH PHÁP
(Tôn Vũ)

Thiên Thứ nhất
Kế Sách
Thiên Thứ hai
Tác chiến
Thiên Thứ ba
Mưu công
Thiên Thứ Tư
Hình
Thiên Thứ Năm
THẾ
Thiên Thứ Sáu
Hư Thực
Thiên Thứ Bảy
Quân Tranh
Thiên Thứ Tám
Cửu Biến
Thiên Thứ Chín
Hành Quân
Thiên Thứ Mười
Địa Hình
Thiên Thứ Mười một Cửu địa
Thiên Thứ Mười hai Hoả Công
Thiên Thứ Mười Ba Dùng gián điệp
Tam thập lục kế
Phương pháp 4 làm chủ
Nghiên cứu về binh pháp Tôn tử
Các loại địa hình chiến đấu
Nghiên cứu về binh pháp Tôn tử
Tôn vũ đã cầm quân bao nhiêu lần
Nghiên cứu về binh pháp Tôn tử
Phụ Lục

Kế hoạch hủ nữ : Bẻ thẳng thành cong

Tên truyện : BL nữ đích BG tình yêu- Kế hoạch hủ nữ: Bẻ thẳng thành cong – BL女的BG爱情

Tác giả : Trừu phong đích mạc hề -抽风的漠兮

Thể loại: Ngôn tình, thiếu nữ mơ mộng, truyện gay trá hình, hài HE.

Tình trạng : hoàn.

Giới thiệu vắn tắt :

Chu Tiểu Bạch – hủ nữ <=> chỉ thích BL.

Mặc Duy Chính – thẳng nam <=> đương nhiên thích BG .

Thẳng nam đối với hủ nữ mà nói là thiên địch!

Vì mục tiêu cao cả “bẻ thẳng thành cong”, biến thẳng nam thành gay, bạn Bạch quyết định làm trợ lý cho “tổng công” Mặc Duy Chính!

Xem trong cuộc chiến hủ nữ vs thẳng nam, ai là người thắng cuộc?

(*) Chu Tiểu Bạch : “Chu” đồng âm với “trư”(heo), “tiểu bạch” nghĩa là “đơn thuần, đơn giản”

Mặc Duy Chính : “duy chính” hiểu nôm na là “Thẳng đến cùng”.

Churchill, Roosevelt, Stalin những ngày cuối Thế chiến II

Stalin (trái), Churchill (phải) và Roosevelt tại hội nghị Tehran.

“Vào thời điểm tham gia hội nghị Tehran, người ta nhận ra rằng tình hình đang thay đổi”, trợ lý nội các chiến tranh Anh, ngài Ian Jacob nhớ lại. “Mỹ đang xây dựng sức mạnh. Tính tới thời điểm đó, số lính Anh tham gia các trận chiến tương đương với lính Mỹ, nhưng thế cân bằng đó sẽ không còn trong tương lai”.
Jacob nói tiếp: “Roosevelt cũng thấy rõ rằng, khi chiến tranh kết thúc, chỉ còn hai cường quốc tồn tại – Nga và Mỹ… Từ đó, London và Washington không còn thân thiết như trước”.
Churchill bị cảm lạnh và viêm họng vào đúng ngày khởi hành 12/11/1943. Tình trạng của ông ngày một tồi tệ. Roosevelt liền đánh điện thăm hỏi: “… sẽ thật hân hạnh khi được gặp lại ông. Tôi hy vọng sức khoẻ của ông sẽ khá hơn”.
Trước hội nghị Tehran, hai nhà lãnh đạo dự định gặp nhau tại Cairo. Tuy nhiên, vì lo ngại về an ninh, Roosevelt đánh điện cho Churchill, thông báo “đối phương đã biết địa điểm họp” và đề nghị chuyển tới Khartoum. Hơi lém lỉnh, Churchill, cho rằng Cairo được lính Anh bảo vệ chắc chắn, bác bỏ mối lo ngại: “Hãy đọc cuốn Saint John, chương 14, tiết 1-4. Đừng để trái tim ông lo lắng: hãy tin vào Chúa, tin vào tôi… Tôi sẽ chuẩn bị một địa điểm cho ông”.

Reducing the Barriers to International Trade in Accounting Services

Product Description
After decades of progress in liberalizing international trade in goods, attention has rightly turned to reducing barriers to trade in services. Accounting, the most global of the professional services, has been chosen as the first priority for new trade agreements by the World Trade Organization. The Asian crisis of the 1990s–partly attributable to poor accounting practices–highlighted the need for increase competition in accounting, which would improve professional standards and permit more efficient use of capital. But regulatory restrictions, foreign and domestic, impede the flow of accounting personnel and information. In this study, Lawrence J. White rebuts much of the traditional rationale for such restrictions, analyzes the pros and cons of harmonizing national regulatory regimes, and provides a list of principles of regulation that would promote competition and serve as a model for global accounting practices.
Reducing the Barriers to International Trade in Accounting Services is one in a series of new AEI studies on negotiations to liberalize trade in services. Each study focuses on a particular service sector, identifies the major obstacles to liberalization in that area, and presents policy options for trade negotiators and interested private-sector participants.

Putin Từ Trung Tá KGB Đến Tổng Thống Liên Bang Nga

Putin Từ Trung Tá KGB Đến Tổng Thống Liên Bang Nga
Tác giả: Lý Cảnh Long. – Dịch giả: Tạ Ngọc ái. Thanh An.
Nhà xuất bản: Nxb Lao động

Giới thiệu về nội dung
Từ khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, nhiều người trên thế giới, trong đó có cán bộ và nhân dân ta rất quan tâm đến tình hình ở các nước này, kể cả tình hình kinh tế – xã hội, tổ chức bộ máy Nhà nước và các nhân vật lãnh đạo mới ở các quốc gia nói trên. Thiết nghĩ, đó là nhu cầu chính đáng được nắm bắt thông tin của đông đảo bạn đọc.
Đáp ứng nhu cầu đó của đông đảo bạn đọc, các cơ quan báo chí, xuất bản nước ta đã đăng nhiều bài báo, xuất bản nhiều cuốn sách mà hầu hết là dịch từ tiếng nước ngoài về đề tài nói trên.
Góp phần đáp ứng nhu cầu của bạn đọc về thông tin, Nhà xuất bản Lao động xuất bản cuốn sách Putin từ trung tá KGB đến tổng thống liên bang Nga được biên dịch dựa theo cuốn sách cùng tên của tác giả Trung Quốc Lý Cảnh Long, do Nhà xuất bản Đương Đại ấn hành. Đây là một tập tài liệu tham khảo có ích, đáp ứng đúng nhu cầu thông tin của đông đảo bạn đọc hiện nay.
Mời bạn tìm đọc.

Academic Press Neural Networks in Finance Gaining Predictive Edge in the Market

Review
“This book clarifies many of the mysteries of Neural Networks and related optimization techniques for researchers in both economics and finance. It contains many practical examples backed up with computer programs for readers to explore. I recommend it to anyone who wants to understand methods used in nonlinear forecasting.”
— Blake LeBaron, Professor of Finance, Brandeis University

“An important addition to the select collection of books on financial econometrics, Paul Mcnelis’ volume, Neural Networks in Finance, serves as an important reference on neural network models of nonlinear dynamics as a practical econometric tool for better decision-making in financial markets.”
— Roberto S. Mariano, Dean of School of Economics and Social Sciences & Vice-Provost for Research, Singapore Management University; Professor Emeritus of Economics, University of Pennsylvania

“This book represents an impressive step forward in the exposition and application of evolutionary computational tools. The author illustrates the potency of evolutionary computational tools through multiple examples, which contrast the predictive outcomes from the evolutionary approach with others of a linear and general non-linear variety. The book will be of utmost appeal to both academics throughout the social sciences as well as practitioners, especially in the area of finance.”
— Carlos Asilis, Portfolio Manager, VegaPlus Capital Partners; formerly Chief Investment Strategist, JPMorgan Chase

“…an excellent, easy-to read introduction to the math behind neural networks.”
– Financial Engineering News

Data Strategy

Product Description

Without a data strategy, the people within an organization have no guidelines

for making decisions that are absolutely crucial to the success of the IT

organization and to the entire organization. The absence of a strategy gives a

blank check to those who want to pursue their own agendas, including those

who want to try new database management systems, new technologies (often

unproven), and new tools. This type of environment provides no hope for

success.

Data Strategy should result in the development of systems with less risk, higher

quality systems, and reusability of assets. This is key to keeping cost and

maintenance down, thus running lean and mean. Data Strategy provides a CIO

with a rationale to counter arguments for immature technology and data

strategies that are inconsistent with existing strategies. This book uses case

studies and best practices to give the reader the tools they need to create the

best strategy for the organization.

From the Back Cover

The definitive best-practices guide to enterprise data-management strategy.

You can no longer manage enterprise data “piecemeal.” To maximize the business value of your data assets, you must define a coherent, enterprise-wide data strategy that reflects all the ways you capture, store, manage, and use information.

In this book, three renowned data management experts walk you through creating the optimal data strategy for your organization. Using their proven techniques, you can reduce hardware and maintenance costs, and rein in out-of-control data spending. You can build new systems with less risk, higher quality, and improve data access. Best of all, you can learn how to integrate new applications that support your key business objectives.

Drawing on real enterprise case studies and proven best practices, the author team covers everything from goal-setting through managing security and performance. You’ll learn how to:

*

Identify the real risks and bottlenecks you face in delivering data—and the right solutions
*

Integrate enterprise data and improve its quality, so it can be used more widely and effectively
*

Systematically secure enterprise data and protect customer privacy
*

Model data more effectively and take full advantage of metadata
*

Choose the DBMS and data storage products that fit best into your overall plan
*

Smoothly accommodate new Business Intelligence (BI) and unstructured data applications
*

Improve the performance of your enterprise database applications
*

Revamp your organization to streamline day-to-day data management and reduce cost
*

Data Strategy is indispensable for everyone who needs to manage enterprise data more efficiently—from database architects to DBAs, technical staff to senior IT decision-makers.

Hàn Mặc Tử Trong Riêng Tư

Những năm qua, vì lẽ riêng, gia đình Hàn Mặc Tử phải giữ im lặng, đành để cho những bạn yêu mến Hàn, những nhà khảo cứu văn học chấp nhận miễn cưỡng những gì huyền hoặc, suy diễn với những sản phẩm tưởng tượng của những người tự coi là hiểu biết về Hàn.

Mục Lục
PHẦN I – 1. Câu Chuyện Xưa Của Bà Mẹ
2. Cậu Thông Oanh (Và Đông Kinh Nghĩa Thục)
3. Nhà Chí Sĩ Phan Bội Châu
4. Tìm Định Hướng
PHẦN II – 1. Chuyến Đò Ngang
2. Chị Trà
PHẦN III – 1. Cô Gái Đồng Trinh
2. Nhớ Nhung
3. Vắng Bóng
4. Bức Thư Xanh
PHẦN IV – 1. Chỉ Một Ước Mơ
2. Chỉ Một Niềm Tin
PHẦN V – Phụ Thêm
PHẦN VI – Điều Chỉnh Lại Ý Nghĩa
PHẦN VII – Lệ Thanh Thi Tập
Lời Bạt

Deliberate Success: Realise Your Vision with Purpose, Passion and Performance

Synopsis
Deliberate Success masterfully presents proven success principles and powerful implementation tools that you can immediately apply in bringing out the best of yourself, your team, and your organisation. From cover to cover, you will experience tangible tools that will catapult you to even higher levels of success in business, and in life. You will take away from this book inspirational stories, the sage wisdom of masters in the field who contributed “Deliberate Success Gems,” hundreds of pragmatic ideas and tools you can use for a lifetime in getting from where you are to where you want to be. This book will both inspire and challenge you to be and do your best. Compelling, practical, and inspirational, Deliberate Success will engage you with the 5 Success Strategies for winning in business and life, The 3 Performance Principles for sustaining long-term results, and hundreds of no-nonsense ideas for immediate application. Deliberate Success will equip you to create and sustain individual, team, and corporate excellence.

Kỳ Môn Ðộn Giáp

Tựa
Bộ Kỳ Môn Độn Giáp này tương truyền là của hai vị tiên sinh Trương
Tử Phòng và Gia Cát Lượng làm ra bí kíp. Ở trong nói về hành quân xuất
trận cho đến chiệm nghiệm ẩn độn mọi việc, không việc gì là không có
ứng nghiệm, bởi vì Trương Tử Phòng được Hoàng Thạch Công chân
truyền, phò Hán Cao Tổ xuất sư và điền thành tổng cục 18 cách mà thành
công quyết thắng. Thục Khổng Minh từ Long Trang ra, phò nhà Hán, giúp
Tiên đế chia bá thiên hạ. Những thần cơ diệu toán của ngài không gì
không có căn cứ vào Tam Kỳ Cửu Cung. Không vì đời xa năm thẩm, sách
vở sai biệt mà Lưu Bá Ôn tiên sinh sưu tập mọi bí san định thành sách mà
có thể xem tóm được hết. Cho đến nay, những nhà xuất bản khác bản đã
lấy ngoa truyền, sai ngoa, dù tý chút hào lý mà mất đi ngàn chân lý. Nay
Kế Cổ Tô chủ nhân kiếm được bí bản nguyên khắc giao cho làm bản in
đó, hiệu đính lại tinh tường, hào lý không sót, xứng đáng mà bộ sách để
bên gối đầu.
Dân quốc năm thứ 3 Giáp Dần, đấu thu.
Tiên Đường Hồng Bảo Vinh cẩn thức

Tailieu4u.com - chia sẻ ebook- download free © 2017 Frontier Theme