Video đang hot BẤM ĐỂ XEM
Dẫn nhập: Ông lão ăn mày cụt một chân, chống đôi nạng len lỏi giữa dòng người, rồi sải nhanh vào cổng chùa Long Sơn (Nha Trang), tìm một chỗ, ngồi xuống; lúc này gần điểm 12 giờ giao thừa, người người đến chùa đốt hương lễ Phật đầu năm ngày một đông. Từ cổng tam quan đến sân chùa cũng khá nhiều người hành khất… Năm ấy, tôi tự hỏi: Lẽ nào số phận của họ “mai nở rồi vẫn không thành Tết”? Hay là “Cuộc đời con người như được gọt ra từ một khối đá huyền bí, cho dù có mài giũa đến mấy, những đường vân tiền nghiệp vẫn mãi mãi hiện lên”?
Nhân dịp xuân về, chúng tôi xin giới thiệu đến quí Phật tử kinh “Nghiệp báo sai biệt”, như cánh thiệp đầu năm, thay cho một tấm lòng chia sẻ, cảm thông, trải đại bi tâm, gởi đến những mảnh đời nghiệt ngã, nhiều số phận kém may mắn trên khắp dải đất này.
Nguyên văn bản kinh này là “Phật vì trưởng giả Thủ-ca mà nói về nghiệp báo sai khác – Sūtra on the difference of the results of the actions (karma)” (Phật vị Thủ-ca trưởng giả thuyết nghiệp báo sai biệt kinh 佛為首迦長者說業報差別經) 1 quyển, Cư sĩ Cù-đàm Pháp Trí (Gautama Dharmajñāna, quê ông ở thành Ba-la-nại tại Trung Ấn Độ, năm sinh và mất không rõ) dịch vào thời Tùy, trong Đại Chánh quyển 1 thuộc A-hàm bộ, số hiệu 80, trang 891. Bản kinh này giống với kinh “Phân biệt thiện ác báo ứng kinh 分別善惡報應經 – Sukarma-duḥkarma-phalaviśeṣaṇa-sūtra” 2 quyển, Tam tạng Thiên Tức Tai (?- 1000, Cao tăng nước Ca-thấp-di-la thuộc Bắc Ấn Độ) dịch vào thời Tống, Đại Chánh 1, số hiệu 81, trang 895…
Hồi 1
Hoàng Đế và Xi Vưu
Tại một thời điểm bị lãng quên trong quá khứ.
Địa điểm là một bãi chiến trường rộng mênh mông âm khí nghi ngút, gió mưa tơi bời, nhật nguyệt vô quang, ngày đêm lẫn lộn.
Chiến tranh đã đến giai đoạn cuối. Máu đã chảy cạn.
Giữa bãi chiến trường đẫm máu, có năm con chiến mã chạy theo năm hướng khác nhau, không ngừng nhảy dựng lên phía trước, ngẩng đầu hí vang. Ngồi trên năm con chiến mã là năm kỵ sĩ, toàn thân giáp trụ sáng ngời, thập phần uy vũ. Bọn họ năm người ra sức vung roi quất vào mông ngựa, cố gắng thúc ái mã của mình chạy thẳng về phía trước.
Mỗi con ngựa đều buộc chặt vào một sợi dây chão to như cánh tay trẻ con, đầu kia của sợi chão buộc vào đầu và tứ chi của một chiến binh hình dáng dữ dằn hung tợn đang dãy dụa dưới đất.
Ngũ mã phanh thây!
…
Luật Công Đoàn được QH08 thông qua ngày 30/06/1990
Chương II – Quyền và trách nhiệm của Công đòan
Chương II – Quyền và trách nhiệm của Công đòan
Chương III – Những bảo đảm hoạt động Công đòan
Chương IV – Điều khỏan cuối cùng
Luật Công Đoàn được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990 quy định chức năng, quyền và trách nhiệm của công đoàn.
Cuốn sách này nhằm cung cấp những kiến thức về cơ sở sinh lý và dinh dưỡng học liên quan đến việc sử dụng thức ăn xơ thô ở gia súc nhai lại trong hai chương đầu. Các chương tiếp theo giới thiệu các biện pháp nhằm nâng cao khả năng sử dụng phụ phẩm làm thức ăn cho gia súc nhai lại cả về mặt lý thuyết và quy trình kỹ thuật. Chương cuối cùng xem xét việc sử dụng các loại phụ phẩm trong các hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững ở Việt Nam.
Mục lục:
Chương 1: Đặc điểm tiêu hóa của gia súc nhai lại
Chương 2: Dinh dưỡng năng lượng và prôtêin của gia súc nhai lại
Chương 3: Thức ăn xơ thô
Chương 4: Bổ sung dinh dưỡng cho phụ phẩm nhiều xơ
Chương 5: Xử lý rơm rạ và phụ phẩm xơ thô
Chương 6: Ủ chua phụ phẩm làm thức ăn cho gia súc nhai lại
Chương 7: Các loại phụ phẩm khác
Chương 8: Một số quy trình chế biến phụ phẩm làm thức ăn cho trâu bò
Chương 9: Các hệ thống sản xuất nông nghiệp sử dụng phụ phẩm làm thức ăn gia súc
Phần phụ lục
Mời bạn đón đọc.
This volume is devoted to the main equipment used in a refinery or a petrochemical complex, classified by technology: separation, heat transfer, chemical reactions, mechanical operations, control and monitoring, and process optimization. The basic principles for design and sizing are presented for each type of equipment. The details of practical implementation are also discussed with a view to maximum efficiency. Equipment selection criteria are provided for specific applications. Lastly, emphasis is placed on the major trends in equipment development.
Contents:
* Separation technologies
o Gas-liquid contactors for distillation: plate columns
o Gas-liquid contactors for distillation: packed columns
o Solvent extraction equipment
o Techniques for physical separation of phases
* Heat transfer technologies
o Process furnaces
o Heat exchangers
* Reaction technologies
o Chemical reactor technology
* Mechanical operations
o Pumps, compressors, turbines and ejectors
o Agitation and mixing techniques
* Control and optimization techniques
o Control and Monitoring
o Rational use of energy
* References
* Index
Book Description:
Fischer-Tropsch Technology is a unique book for its state-of-the-art approach to Fischer Tropsch (FT) technology. This book provides an explanation of the basic principles and terminology that are required to understand the application of FT technology. It also contains comprehensive references to patents and previous publications. As the first publication to focus on theory and application, it is a contemporary reference source for students studying chemistry and chemical engineering. Researchers and engineers active in the development of FT technology will also find this book an invaluable source of information.
* Is the first publication to cover the theory and application for modern Fischer Tropsch technology
* Contains comprehensive knowledge on all aspects relevant to the application of Fischer Tropsch technology
* No other publication looks at past, present and future applications
LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ SỐ 26/2001/QH10
Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động, sinh sống trên lãnh thổ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Luật giao thông đường bộ 2001
Luật giao thông đường thuỷ nội địa 2004
Luật đường sắt 2005
Nhân-quả, Luân-hồi, Nghiệp báo là đạo lý căn bản của Phật giáo. Sông biển có thể cạn khô. Mặt trời mặt trăng có thể rơi rụng. Nhưng đạo lý nầy muôn đời không sai. Dù thế pháp hay đạo pháp, tăng hay tục, bất luận hạng người nào, hễ còn vào ra trong sanh tử, trôi lăn trong sáu đường, đắm chìm trong ngũ dục, lặn hụp trong lợi danh dục tình, thì nhất định không cách nào thoát khỏi mãnh lực của luật nhân quả, luân hồi, nghiệp báo chi phối.
Không tin nhân quả, luần hồi, nghiệp báo là tự mình đào sâu hố thẳm thối hóa, tự mình mở cửa tội lỗi, đi vào bóng đêm tăm tối thăm thẳm. Không tin nhân quả, luân hồi, nghiệp báo là đi ngược luật tiến hóa thiên nhiên, là tự nghiền nát khả nang phát triển thánh thiện của mình. Ngày xưa, khi đức Phật đanh tĩnh tọa dưới gốc cây, có vị thiên thần đến hỏi Phật: “Bạch đức Thế-Tôn! Trên đời nầy cái gì tăm tối nhất? Cái gì tội lỗi nhất?”
Ðức Phật trả lời: “Lòng dạ ngu si không biết phân định chánh tà là tăm tối nhất. Không tin nhân quả, luân hồi, nghiệp báo là nguồn gốc sanh ra tội lỗi nhất”.
Có tin nhân quả, luân hồi, nghiệp báo mới thấy được cội nguồn tội phước, mới chuyển bước hướng thiện, mới tìm thấy ánh sáng chân lý cuộc đời, mới giải tỏa được bao nỗi ưu tư thắc mắc của tâm thức, và mới thực sự liễu giải mọi hiện tượng sanh diệt chuyển biến thịnh suy của thế nhân.
Nhân quả, luân hồi, nghiệp báo bao trùm và chi phối muôn loài vạn vật. Thế nên tất cả những hiện tượng nhân sanh vũ trụ thăng trầm sanh diệt không ngoài luật nhân quả. Tin hiểu nhân quả, luân hồi, nghiệp báo là chìa khóa khai mở kho tàng bí ẩn thầm kín thâm sâu của kiếp người, là đài gương quán chiếu giải tích mọi hiện tượng nhân sanh vũ trụ. Một khi đã hiểu rõ và tin sâu đạo lý nhân quả, luân hồi, nghiệp báo, con người không còn thắc mắc về thân phận mình và hoàn cảnh tha nhân.
Nhân quả, luân hồi, nghiệp báo là quỹ đạo, là mấu chốt cho những hệ quả hiện tượng dây chuyền thiên chuyển biến dịch của các pháp, là hiện trạng hiển hóa sanh sanh diệt diệt thăng trầm chuyển kiếp của hữu tình chúng sanh đời này sang đời khác. Mọi hiện tượng của kiếp người trong vũ trụ thăng trầm tan hợp chỉ là sự thay hình đổi lớp hệ lụy theo nghiệp nhân quả báo, chứ bản chất cốt tủy của nó không bao giờ mất. Như sóng biển lặn nơi nầy nổi nơi khác. Nhà bác học Lavoisier (1743-1794) đã nói: “Mọi hiện tượng trên đời không có gì còn mãi, cũng không có gì vĩnh viễn mất”.
Ðức Phật đã thấu suốt diệu lý chơn thường của vạn pháp, nên trên đường giáo hóa độ sanh, Ngài đã bao lần giải đáp thắc mắc cho thính chúng đệ tử. Ngài thường dẫn chứng đạo lý nghiệp quả, luân hồi, nhân duyên, tiền kiếp. Nhờ đó mà thính chúng thấu rõ mọi hiện tượng sinh sinh hóa hóa, giải tỏa nghi hoặc, tiến tu, thể nhập diệu lý Ðại-thừa.
Do công đức tu hành mà đức Phật có được trí huệ giác ngộ, thấu suốt chân lý vũ trụ nhân sanh. Nhờ giới thể thanh tịnh mà đức Phật có huệ nhãn suốt thấy các kiếp chúng sanh biến chuyển đổi dời từ thời quá khứ sang thời hiện tại và tiếp diễn đến đời vị lai. Ngài là người bộ hành đã lên đến đỉnh núi giác ngộ, ngồi thưởng thức trăng thanh gió mát với quãng trời giải thoát bao la, rồi nhìn lại quãng đời đầy sông núi suối đèo ghềnh thác chông gai mà mình đã trải qua. Ngài thấu suốt tất cả ngọn ngành uẩn khúc của kiếp chúng sanh trong sáu nẻo luân hồi. Trong lúc đó, chúng sanh nghiệp chướng sâu dày, sống trong vô minh vọng thức, tội lỗi chất chồng. Do tà tâm vọng tưởng, nên phiền não dày vò, phàm tánh cuốn lôi, lạc lối trong rừng núi thâm u đầy bất trắc. Kiếp người như thuyền nan trong biển cả đầy hiểm nguy không địa bàn để tìm ra định hướng.
Tuy đức Phật đời đời thương xót gọi kêu chúng sanh thức tỉnh, tiếng pháp âm không ngừng vang vọng, nhưng chúng sanh không thúc liễm thân tâm, cứ mải mê say đắm trong ngũ dục lạc trần gian mông huyễn. Kinh Thủ-Lăng-Nghiêm, đức Phật nói: “Mười phương các đức Như-Lai đời đời thương xót chúng sanh như mẹ hiền thương con nhỏ, lúc nào cũng muốn giúp đỡ cho con nên người sáng suốt an vui. Nhưng con cứ tìm cách trốn tránh mẹ, thì cho dù mẹ có thương con đến mấy đi nữa, cũng không cách nào giúp đỡ con được. Mẹ tìm con mà con cứ mãi trốn mẹ, thì mẹ con đời đời xa cách!” Chư Phật Bồ-Tát luôn luôn mang từ bi trí huệ an lành hướng về chúng sanh, như mặt trời lúc nào cũng trải nguồn sáng ấm cho vạn vật. Nhưng có những võ cây sanh trong kẹt đá, những sinh vật sống trong rừng thẳm biển sâu thì không thể nào tiếp nhận được nguồn sáng ấm của mặt trời.
Kiếp người diễn biến từ đời này sang đời khác vô cùng tận, như lượn sóng trên đại dương, chỉ có trí huệ giác ngộ của Phật mới kiểm chứng được số lượng kiếp kiếp. Và chỉ khi nào đạt quả Vô-thượng Bồ-đề mới chấm dứt kiếp luân lưu sanh tử từ thời quá khứ sang thời hiện tại.
Bàng bạc khắp trong tam tạng kinh điển, hằng hà sa số mẩu truyện, đức Phật thường nhắc đến sự liên hệ giữa Ngài và các đệ tử, giữa chúng sanh và Ngài trong những kiếp quá khứ.
Trong tâm nguyện đền ơn giáo hóa muôn một của đức từ phụ Thế-Tôn và cũng để giúp tư liệu cho những ai muốn biết phần nào về những kiếp quá khứ của đức Phật, do vậy, tỳ kheo Quê Mùa tôi không ngài tài hèn đức bạc, mạo muội soạn dịch một ít truyện trong muôn ngàn truyện tiền thân của đức Phật, để cống hiến quý hiền giả.
Nơi đây, tôi chân thành tán thán công đức Phật tử Trần-Hải-Hùng – Pháp danh Chơn Lạc, và Vương-Mỹ-Linh – Pháp danh Diệu Tâm, đã phát tâm Bồ-đề hiến cúng tịnh tài để cho tậpLược Truyện Tiền Thân Ðức Phật nầy đủ duyên tái bản hầu kết thiện duyên Bồ-đề cùng bạn lành bốn phương.
Nguyện đem công đức nầy cầu nguyện Phật tử Chơn Lạc và Diệu Tâm cùng gia đình thường được bình an, đồng thời hồi hướng đến tứ trọng ân và pháp giới chúng sanh đều được an lành, sớm phát tâm Bồ-đề quy-y Tam-Bảo, liễu ngộ chánh pháp Ðại-thừa, đạt thành đạo quả giải thoát.
Hoa-Kỳ, Vu-Lan Mậu Dần – 1998
Thích Ðức Niệm
Bây giờ tôi đã là một lão già nhưng câu chuyện thì lại xảy ra lúc tôi hãy còn rất trẻ, năm lên chín. Đấy là mùa hè năm 1914, sau khi anh Dan của tôi qua đời trên cánh đồng phía Tây, không lâu trước khi nước Mỹ tham gia thế chiến I. Tôi chẳng bao giờ kể cho bất kỳ ai về những gì xaỷ ra tại ngã ba dòng suối trong ngày ấy và tôi cũng sẽ chẳng bao giờ hé răng. Nhưng tôi quyết định sẽ viết lại nó, trong cuốn vở này, cuốn vở tôi đặt trên bàn cạnh giường ngủ. Tôi không thể viết dài vì tay tôi đã run, thỉnh thoảng tôi phải dừng lại để lấy sức và tôi không nghĩ câu chuyện sẽ quá dài…