Sách hay – Page 87 – Tài Liệu Mới – chia sẻ ebook- download free

Tài Liệu Mới - chia sẻ ebook- download free

Cùng xây dựng cách mạng công nghiệp 4.0

[wpdreams_ajaxsearchpro id=1]

Category: Sách hay

Như Lời Cầu Kinh

NHƯ LỜI CẦU KINH – THE PRAYER OF THE FROG

ANTHONY DE MELLO

Nhà xuất-bản Gujarat Sahitya Prakash Anand, India

****
Nếu các bạn đã đọc qua quyển ” Một Phút Tầm Phào” của Cha ANTHONY DE MELLO thì hẳn các bạn không thể bỏ qua quyển này. Cha ANTHONY DE MELLO dùng ngôn ngữ và Thần Khí của mình đã sáng tác ra những chuyện Suy Niệm rất độc đáo. Hay ở chỗ, mỗi giai đoạn Tâm Linh của mỗi người, bạn lại “NHẬN-NHÌN” nghĩa khác. Và Cha bắt người đọc phải vắt óc mà suy tư, chiêm niệm những Chân Lý Đức Ki-tô đã gieo cách đây hơn hai nghìn năm.

***

YÊU !

Ngắm dòng đời ô trọc
Với bao nỗi thương đau
Gió mưa đời nghiệt ngã
Vùi nhân thế biển sầu

Tình con chìm mất hút
Trong đáy mắt quần sâu
Cha treo trên thánh giá
Chết đớn đau thảm sầu.

Sao Cha yêu nhiều thế,
Nhân loại là chi đâu?
Đã hai mươi thế kỷ
Vẫn chưa vơi niềm đau …

Kìa có thêm thánh giá,
Mọc lên từ vực sâu!
Treo ai dường như cỏ
Hoang dại hương kinh cầu.

Sống để yêu thương

Tác giả : Nhiều tác giả
Dịch giả : Tiểu Ngư
Nhà xuất bản : Trẻ

Lời giới thiệu
Giữa bộn bề cuộc sống, đôi khi ta tự hỏi: Cuộc sống này sẽ đi về đâu? Sống để làm gì? Trong cả một kiếp người, không ai là không phải trải qua những giây phút khó khăn cùng cực: những bi quan, đau khổ, mất niềm tin; những lo toan, mất mát, và những giọt nước mắt muộn phiền là những điều gắn liền với cuộc đời của một con người. Ai đó đã nói rằng: chỉ khi bạn nếm mùi đau khổ đến 99%, bạn mới nhận được 1% niềm hạnh phúc và mới hiểu được giá trị đích thực của hạnh phúc. Liệu cuộc sống này thật sự nghiệt ngã đến thế sao?
Thật ra, cuộc sống này cho ta rất nhiều thứ mà đôi lúc vì tự thương thân quá mức, ta không thể nhận ra. Những thất bại cho ta kinh nghiệm quý báu, những khó khăn cho ta sức mạnh của nghị lực, những mất mát khiến ta biết quý trọng gìn giữ những gì ta đang có, nước mắt sẽ làm nụ cười thêm rạng rỡ, nỗi bất hạnh mở ra những khát khao hướng về ánh sáng của niềm hạnh phúc, và sự ganh ghét, ích kỷ, thù hận sẽ càng làm cho ai đó mong mỏi mãnh liệt được yêu thương. Dù bạn có được mọi xa hoa của vật chất và danh vọng, cuộc sống này vẫn sẽ là vô nghĩa nếu không có tình yêu thương, niềm hy vọng, không có những tấm lòng rộng mở và trái tim nhân hậu.
“Sống để yêu thương” gồm những câu chuyện về cuộc đời của những con người quen thuộc trong cuộc sống quanh ta: trẻ em, sinh viên, ông bà lão, người mắc bệnh nan y, kẻ nghèo khó, người giàu sang, kẻ thất bại, người kinh doanh thành đạt, kẻ lành lặn, người khuyết tật… Ai cũng có những nỗi đau của riêng mình. Ai rồi cũng cần được yêu thương và cần có ai đó để yêu thương.
Những câu chuyện hay, giống như một người cố vấn tài ba nhất, dẫn đường nhưng lại không hề áp đặt ra lệnh; những câu chuyện ấy là những trải nghiệm độc nhất vô nhị, sự thấu hiểu thắt chặt với xúc cảm làm ta xao động và tái hiện lại những ký ức của chúng ta.
Một câu chuyện thực sự có ý nghĩa sẽ để ta tự nhận ra nhhũng lựa chọn gợi mở, để ta thấy được những hướng đi mới mà có thể chúng ta chưa bao giờ nghĩ đến. Câu chuyện ấy còn cho phép và truyền cho chúng ta lòng can đảm để thử sức với mọi con đường mới, vượt qua mọi bi quan, yếm thế, đau khổ, thúc đẩy chúng ta hướng tới một thế giới tốt đẹp hơn. Hy vọng những câu chuyện trong tập sách nhỏ này sẽ mang lại cho bạn điều đó.
“Sống để yêu thương” sẽ giúp chúng ta thấy cuộc đời này đẹp đẽ và đáng sống biết bao…
Nhà xuất bản Trẻ

Mục lục
Lời giới thiệu
Cái chạm của tình yêu
Dave
Quý bà có giọng nói biết cười
Những cuộc viếng thăm quý giá
Yêu đến phút cuối cùng
Khóa kéo
Tôi có thể
Chiếc chìa khóa kỳ diệu
Chiếc váy nhỏ
Sống để yêu thương
Người hướng dẫn bất đắc dĩ
Cái gối
Vòng quay định mệnh
Thêm một người nữa…
Cái ôm và nụ hôn
Kí hiệu « thỏ con »
Món quà của bà
Sống với tinh thần của mẹ
Món quà của một đứa trẻ
Trước một bước
Một người bạn cho bạn tất cả các mùa
Người hùng của tôi
Không một lời nói
Hãy tha thứ cho bố
Trò chuyện với một chú bé thông minh
Vòng tay tình yêu
Phá tan sự im lặng
Nhựa sống
Phần còn lại của Roger

Cổ học tinh hoa

Cổ học tinh hoa

Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc
Từ An Trần Lê Nhân

Tên tuổi Nguyễn Vǎn Ngọc (1890- 1942) gắn liền với nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20. Ông là nhà giáo, nhà sưu tầm vǎn học dân gian, nhà nghiên cứu vǎn học, nhà hoạt động vǎn hoá xuất sắc. Những cuốn sách của ông không chỉ mang đậm giá trị vǎn hoá, giáo dục mà còn là một mẫu mực trong công tác biên soạn, khảo cứu sách.
Tác giả Trần Lê Nhân am tường triết học phương Đông và nghiên cứu cả triết học phương Tây. Ông đã góp phần đào tạo một lớp người thuộc nhiều thế hệ khác nhau, hầu hết họ đều có nhân cách, có học thức và thành đạt.
Cuốn Cổ học tinh hoa do hai ông biên soạn đã thâu lượm, giới thiệu với bạn đọc những tinh hoa của nền cổ học phương Đông. Với 250 mẩu chuyện, các tác giả đã đem đến cho người đọc cách nhìn nhận cuộc sống, con người, cách xử sự sao cho phù hợp với từng nới từng lúc. Có thể nói, đó là cuốn sách dạy làm người, là cái túi khôn rất cần thiết không chỉ cho xã hội lúc bấy giờ mà cho cả hôm nay và mãi về sau.

Tiểu tự

“Có mới, nới cũ” thường tình vẫn thế. Tân học mỗi ngày một tiến, tất Cựu học phải lùi và có khi sợ rồi mai một đi mất. Nhưng, Tân học mà hay, tất là Tân học có một nền tảng vững chắc. Nền tảng ấy tức là tinh hoa của Cựu học. Cựu học nước nhà là một thứ học trải qua bao nhiêu đời, đã làm cho ông cha ta phù thực được cương thường, chấn chỉnh được phong hóa, bảo tồn được quốc thể, duy trì được thế đạo nhân tâm, thật không phải là một cái Học không có giá trị đáng khinh rẻ hay quên bỏ được. Vả chăng: “Tri kim, nhi bất tri cổ, vị chi manh cổ; tri cổ, nhi bất tri kim, vị tri lục trầm” ta đã biết truyện đời nay, ta lại cần phải học truyện đời xưa, ta ôn lại việc đời xưa mà ta rõ được việc đời nay, có như thế, thì cái Học của ta mới không đến nỗi khiếm khuyết. Vì, tuy chia làm cổ, kim, nhưng chẳng qua cũng chỉ là buổi sớm, buổi chiều trong một ngày của trời đất, kẻ học giả mà câu nệ chấp nhất, chỉ biết cổ không muốn biết kim, hay chỉ biết kim không muốn biết cổ, thì sao gọi là “bác cổ thông kim” được!

Cựu học của ta là gì? Cựu học của ta tức là Hán học nghĩa là một cái Học chung cho cả mấy dân tộc ở Á Đông đã chịu cái văn hóa của giống người Hán, tức là người Trung Hoa. Cựu học không phải là chỉ có Tứ Thư, Ngũ Kinh, xưa kia đa số quen dùng làm cái học cử nghiệp mà thôi. Ngoại giả, còn Bác gia chư tử thật là man mác rộng như bể, học thuyết đủ mọi mặt, lý tưởng rất sâu xa, muốn học cho tới nơi, phải mất bao nhiêu công phu, thời giờ mới được. Nay, chúng tôi biên tập quyển sách nầy, không phải là muốn chuyên tâm nghiên cứu riêng một phái nào hay một nhà nào. Chúng tôi chỉ góp nhặt một đôi chút lý tưởng trong Cổ học gọi là để cho người đọc thiệp liệp qua được một ít tinh hoa của lối học cũ mà thôi. Nên chúng tôi mới lạm dụng bốn chữ “Cổ Học Tinh Hoa” làm nhan sách.

Chúng tôi có ý chọn những bài ngắn mà nghĩa lý hàm súc dồi dào. Những bài ấy tuy là truyện từ đời xưa bên Tàu, nhưng ứng dụng vào đời nào và ở đâu cũng được. Vì truyện tuy cổ, nhưng cái chân lý thì bao giờ cũng là một, mà bao giờ cũng như mới. Nào hiếu đệ, nào trung tín, nào lễ nghĩa, nào liêm sĩ, đến cả những việc kỳ quái, sinh tử; bài nầy chính giọng huấn giáo, bài kia rõ thể ngụ ngôn, truyện nầy nghiêm trang khắc khổ, truyện kia khôi hài lý thú; đức Khổng nói “Nhân” hồn nhiên như hóa công; ông Mạnh bàn “Nghĩa” chơm chởm như núi đá, Tuân Tử nói “Lễ” thật là đường bệ, Mặc Tử nói “Ái” thật là rộng rãi, hình danh như Hàn phi tử thật là nghiêm nghị khiến người mất bụng làm xằng, ngôn luận như Án Tử thật là thâm thiết khiến người dễ đường tỉnh ngộ, đến nói đạo đức như Lão Tử, bàn khoáng đạt như Trang Tử thật lại biến hóa như rồng, phấp phới như mây… các lý thuyết mỗi nhà một khác, có khi phản đối hẳn nhau, nhưng thực khiến cho người đọc vừa được vui, vừa phải đem tâm suy nghĩ.

Dịch những bài văn như thế, chúng tôi lấy làm rất khó. Chẳng những chữ Hán dịch ra chữ Nam, lắm câu không hết được nghĩa, nhiều bài, chính nguyên văn cũng mỗi nơi chép một khác không lấy gì làm xác định. Nên khi dịch, chúng tôi phải châm chước cân nhắc từng bài, bài thì địch thẳng nguyên văn, bài thì chỉ dịch lấy đại ý, hoặc có bài phải rút bớt, hay thêm ra, hay đúc lại, cốt cho nó xuông tiếng Nam mà không hại đến nghĩa bài thì thôi. Dịch Hán văn ra quốc văn, tất phải dùng nhiều chữ Hán. Song chữ nào bất đắc dĩ phải dùng, thì ở dưới chúng tôi đã có “giải nghĩa” rõ ràng. Nghĩa ấy thường chỉ là nghĩa riêng trong bài, chớ không phải hết mọi nghĩa của từng chữ.

Những tên người, tên đất, muốn cho tinh tường, đáng lẽ phải có một cái biểu liệt đủ tên những tác giả cùng những người nói trong chuyện và một bức địa đồ Trung Hoa trải qua các thời đại. Nhưng việc ấy xin để nhường những nhà chuyên về Bắc sử sau nầy, đây chúng tôi chỉ chua qua để cho độc giả đủ biết cái đại cương mà thôi. Đọc một bài văn hay, mà tư tưởng đã thấm thía vào tâm não, thì tất không sao để yên ngòi bút mà không phê bình được. Đó cũng là một cái thông bệnh của những người hâm mộ văn chương hay có cái thú ngâm nga và đưa ngòi bút khuyên liền, khuyên kín vậy. Chúng tôi cũng không tránh khỏi cái bệnh ấy. Nên dưới mỗi bài chúng tôi cũng góp “Lời Bàn”, cốt là để giải rõ các đại ý trong bài hoặc lạm bình một, đôi câu ứng với cái thời buổi bây giờ.

Chúng tôi mạo muội biên dịch quyển sách nầy là quyển đầu, có ý bảo tồn tinh hoa của cổ học và mong các bạn thiếu niên ta nhớ đến nguồn gốc từ bao nghiêu nghìn năm về trước, rõ các điển tích thường dẫn trong văn chương nước nhà, thêm trước được ít tài liệu có khi làm văn phải dùng đến, rộng được ít tri thức tuy thuộc về Cổ học mà thật khác nào “như thóc gạo, như vải lụa”, thường cần đến hàng ngày. Nếu quyển sách này, giúp được một phần trong muôn phần ấy, thì chúng tôi lấy làm hoan hỷ lắm vậy.
Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm Ất Sửu (1925)

Thiết kế bài giảng toán 4 – Tập 1

Để đáp ứng nhu cầu triển khai chương trình sách giáo khoa tiểu học mới, từ năm 2005 – 2006 chúng tôi xin gửi tới các thầy cô giáo dạy lớp 4 cuốn “Thiết Kế Bài Giảng Toán 4”. Sách giới thiệu một cách thiết kế bài giảng toán 4 theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh.
Về nội dung: Sách bám sát nội dung SGK toán 4, theo chương trình gồm 80 tiết (học kì I). Ở mỗi tiết đều chỉ rõ mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ, các công việc cần chuẩn bị của giáo viên và học sinh, các phương tiện trợ giảng cần thiết, dễ làm, nhằm đảm bảo chất lượng từng bài, từng tiết trên lớp.
Về phương pháp: Sách đã cố gắng vận dụng phương pháp dạy học mới để truyền tải từng nội dung cụ thể của bài học. Ở mỗi tiết học, tác giả còn chỉ rõ từng hoạt động cụ thể của GV và HS trong quá trình dạy – học, coi đây là hai hoạt động cùng nhau, trong đó cả HS và GV đều là chủ thể của hoạt động.

MỤC LỤC:
Lời nói đầu
Tiết 1: Ôn tập các số đến 100000
Tiết 2: Ôn tập các số đến 100000 (tiếp theo)
Tiết 3: Ôn tập các số đến 100000 (tiếp theo)
Tiết 4: Biểu thức có chứa một chữ
Tiết 5. Luyện tập
Tiết 6: Các số có sáu chữ số
Tiết 7: Luyện tập
Tiết 8: Hàng và lớp
Tiết 9: So sánh các số có nhiều chữ số
Tiết 10: Triệu và lớp triệu

Mời các bạn đón đọc.

Chiếc Lexus Và Cây Ô Liu

Chiếc Lexus Và Cây Ô Liu
Thomas L. Friedman
Lê Minh dịch
Số trang: 736
Kích thước: 14,5×20,5 cm
Trọng lượng: 990 g
Hình thức bìa: Mềm
Nxb: Khoa học xã hội
Ngày Xuất bản: 06-2005
Giá bìa: 60.000 VNĐ
Chiếc Lexus sẽ cày nát cây ôliu?

Điểm sách
TTCN – Để đọc cuốn Chiếc Lexus và cây ô liu (*), bạn phải chuẩn bị tinh thần sẵn sàng bị tác giả Thomas Friedman khiêu khích, đôi lúc đến chỗ cực đoan. Nhưng dù tán thành hay phản bác quan điểm của tác giả, sách buộc chúng ta phải đọc đến tận trang cuối cùng và mãi băn khoăn về số phận con người trong cơn lốc toàn cầu hóa.

Là một cây bút bình luận quan hệ quốc tế của tờ New York Times, Thomas Friedman có điều kiện đi khắp thế giới, tiếp xúc với đủ loại người, chứng kiến những biến cố lịch sử. Từ những kinh nghiệm ấy, Friedman đã viết cuốn Chiếc Lexus và cây ôliu, in lần đầu vào năm 1999 và ngay lập tức trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất, được bàn tán nhiều nhất về toàn cầu hóa.

Toàn cầu hóa, theo quan điểm của Friedman, không phải là một trào lưu thời thượng mà là một hệ thống quốc tế thay chỗ cho hệ thống chiến tranh lạnh, đang trực tiếp hay gián tiếp tác động đến chính trị, môi trường, địa chính trị và kinh tế của hầu như mọi quốc gia trên thế giới.

Nói trắng ra đó là sự bành trướng không gì ngăn cản nổi của chủ nghĩa tư bản quốc tế khi các rào cản chính trị, địa lý, tài chính, thông tin… được tháo gỡ để tạo dòng chảy thoải mái cho đồng vốn, công nghệ đi khắp thế giới, tác động đến từng cá nhân và lối sống của họ. Thúc đẩy cho cơn lốc toàn cầu hóa này là các định chế quốc tế như WTO, IMF và các tiến bộ đáng kinh ngạc trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông.

Trong hệ thống này, mọi quốc gia phải tuân thủ luật chơi khắc nghiệt mà Friedman gọi là “chiếc vòng kim cô” như Tôn Ngộ Không từng phải mang. Còn những nhà tư bản tài chính, xua đồng vốn – cả trực tiếp lẫn gián tiếp – của mình đến bất kỳ đâu kiếm ra lợi nhuận nhiều nhất được gọi là “bầy thú điện tử”.

Nếu đáp ứng đúng luật chơi, tức là mở cửa thị trường, thả nổi và tư nhân hóa nền kinh tế, một quốc gia mới mong cạnh tranh và mời được “bầy thú” vào nhà, cuộc sống của người dân sẽ nhanh chóng được cải thiện. Còn ngược lại, nếu luật lệ tù mù, xã hội thiếu minh bạch, quyền lực rơi vào một nhóm người, “bầy thú” sẽ bỏ đi, giẫm nát luôn mọi thứ trên đường tháo chạy.

Dĩ nhiên “bầy thú” sẽ tác động gây áp lực để các quốc gia phải chịu khoác vòng kim cô, ngoan ngoãn sửa đổi luật lệ cho chúng dễ hoạt động. Chúng làm vậy không phải là để cổ vũ cho một nền dân chủ mà là để tăng khả năng dịch chuyển và bảo vệ tài sản.

Friedman khẳng định ông “hoàn toàn hiểu rõ những mặt trái của toàn cầu hóa”. Bởi theo ông, đứng về mặt văn hóa, toàn cầu hóa hiện nay bao gồm một quá trình “Mỹ hóa” – dù tốt hay xấu. Trong hoàn cảnh đó, con người không còn lựa chọn nào khác mà phải “hội nhập”, trở thành những con người cô đơn, xã hội giảm tính người, và quốc gia có nguy cơ đánh mất những giá trị văn hóa truyền thống của mình mà Friedman hình tượng hóa thành những cây ôliu.

Toàn cầu hóa còn có tiềm năng hủy diệt môi trường, phá hủy hệ sinh thái trên qui mô lớn. Ông viết: “Toàn cầu hóa có thể tiếp sức vô hạn nhưng cũng có thể chèn ép con người vô cùng. Toàn cầu hóa có thể phân bổ các cơ hội nhưng cũng khiến tràn lan sự hoang mang”.

Những điều nói trên thật ra không có gì mới nhưng lối viết sách của Friedman lôi cuốn người đọc vì ông dùng rất nhiều mẩu chuyện cụ thể để minh họa lập luận của mình – từ các lần gặp gỡ nguyên thủ nhiều nước với những tình tiết hấp dẫn đến các câu chuyện đời thường sinh động.

Tuy nhiên đến phần thứ ba của cuốn sách, Friedman hình như không còn giữ được tính khách quan của một nhà báo. Say sưa trước hình ảnh về một hệ thống quốc tế hoàn hảo, Friedman cho rằng động lực toàn cầu hóa sẽ xóa nạn tham nhũng, cửa quyền, sẽ lành mạnh hóa bộ máy hành chính, minh bạch hóa thị trường, sẽ dẫn đến tự do báo chí – nói chung là tạo ra một quá trình dân chủ hóa mạnh mẽ. Sức mạnh toàn cầu hóa mà mô hình mẫu mực là xã hội Mỹ, theo ông, sẽ chữa lành các căn bệnh của thế giới!

Ngay sau lần xuất bản thứ nhì của cuốn sách vào năm 2000, liên tiếp xảy ra những sự kiện: sự sụp đổ của hàng loạt công ty Internet, vụ khủng bố 11-9 và hàng loạt vụ bê bối trong nội tình nhiều đại công ty trên thế giới như Enron (được Friedman ca tụng trong cuốn sách này), WorldCom, Tyco… Phải chăng trong bản thân “bầy thú” cũng có những “con thú đầu đàn” quá đam mê lợi nhuận riêng đã phá vỡ qui luật cuộc chơi, để đến nay người ta vẫn đang còn phải bàn cách quay trở về những qui tắc căn bản của quản trị doanh nghiệp nhằm quản lý chính “bầy thú”.

Chính Friedman cũng thừa nhận trong hệ thống toàn cầu hóa, quyền lực được chia sẻ giữa các nhà nước và các thế lực trên thị trường tài chính. Sẽ không có gì bảo đảm một khi nhà nước kết nối được với “bầy thú” tìm ra phương cách hoạt động có lợi cho cả hai thì quần chúng không còn là một yếu tố phải tính đến. Tức là một bên cứ tham nhũng, lạm quyền và bên kia cứ ung dung nhai nát đồng cỏ, không còn chừa chút thức ăn nào cho người dân.

Cái nữa là phương cách Friedman cho rằng các nước có thể dùng để tận dụng lợi thế của “bầy thú” vừa tránh được khả năng bị chúng giày xéo các đồng cây ôliu đó là bộ lọc văn hóa, phong trào bảo vệ môi trường, mạng lưới phúc lợi xã hội – nói chung chỉ là những chuyện mang tính hình thức hơn là đi thẳng vào bản chất vấn đề. Những ví dụ Friedman đưa ra trong phần này như nỗ lực bảo vệ những khu rừng nhiệt đới vùng Amazon không mang tính điển hình mà nặng phần trình diễn hơn.

Trong phần nói về chống đối toàn cầu hóa, Friedman nhắc đến những con người không có kỹ năng hay sức lực để gia nhập thế giới toàn cầu hóa là những con rùa. Vấn đề không chỉ ở chỗ những con người không thể chạy nhanh chống đối toàn cầu hóa vì cảm thấy bị thua thiệt, bị hất hủi. Họ cũng không thể đi học lại những kỹ năng mới để đảm nhận những công việc mới khi công việc cũ của họ bị dịch chuyển đến nơi lao động rẻ hơn.

Đơn giản chỉ vì họ không muốn bị đẩy vào thế không còn tự do chọn lựa cách sống, lối sống phù hợp với cá nhân họ, không muốn phải từ bỏ giá trị cũ để chấp nhận giá trị mới cho dù nó có hào nhoáng hơn. Và đấy là bi kịch lớn nhất của toàn cầu hóa mà Friedman quên nhắc đến trong Chiếc Lexus và cây ôliu.

Thiết kế bài giảng vật lí 10 – Tập 2

“Thiết kế bài giảng vật lí 10 – Tập 2” được viết theo chương trình SGK mới ban hành năm 2006 – 2007. Sách giới thiệu một cách thiết kế bài giảng Vất lí 10 theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy – học, nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh.

Về nội dung: Sách bám sát nội dung SGK Vật lí 10, theo chương trình mới. Ở mỗi tiết đều chỉ rõ mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ, các công việc cần chuẩn bị của giáo viên và học sinh, các phương tiện trợ giảng cần thiết, dễ làm, nhằm đảm bảo chất lượng từng bài, từng tiết trên lớp.

Về phương pháp: Sách đã cố gắng vận dụng phương pháp dạy học mới để truyền tải từng nội dung cụ thể của bài học. Ở mỗi tiết học, tác giả còn chỉ rõ từng hoạt động cụ thể của GV và HS trong quá trình dạy – học, coi đây là hai hoạt động cùng nhau, trong đó cả HS và GV đều là chủ thể của hoạt động.

Mời các bạn đón đọc.

CEO ở Trung Quốc

CEO ở Trung Quốc

Tác giả:Nhiều tác giả
Năm xuất bản:2007
Đơn vị xuất bản:Trẻ
Nguyễn Hữu Thái dịch
Việt Nam đã tham gia WTO. Sau những hồ hởi ban đầu chúng ta bắt đầu đối mặt với những vấn đề của nền kinh tế liên thông với thị trường thế giới, nhiều thách thức và không ít khó khăn đã, đang và sẽ đến, không thể và cũng không nên dừng lại. Để Việt Nam ta có những bước đi vững chãi ở sân chơi WTO, chủ động và thành công với sân chơi quốc tế này, nhiều nhà lãnh đạo kiệt xuất đều cho rằng Việt Nam nên học kinh nghiệm của Trung Quốc, một đất nước có nhiều điểm tương đồng trong hội nhập và phát triển đã và đang hội nhập rất thành công.

“Chỉ trong một thế hệ mà Trung Quốc đã đạt được những thành tích mà những nước khác phải mất hàng thế kỷ. Chưa có quốc gia nào (chứ đừng nói gì đến một quốc gia tầm cỡ châu lục) gặt hái nhiều thành tựu như thế trong một khoảng thời gian ngắn như vậy. Nỗ lực độc nhất vô nhị để đồng thời hoàn tất hai công cuộc biến chuyển của Trung Quốc – từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường và từ xã hội nông thôn sang xã hội đô thị – chưa hề có tiền lệ trong lịch sử”. (Ngân hàng thế giới, Trung Quốc năm 2020: Phát triển và Thách thức trong Thế kỷ Mới)

Xin được chia sẻ đến những người làm kinh doanh và có ước mơ trở thành doanh gia nghiệp chủ thành công 1 cuốn sách nên đọc: CEO ở Trung Quốc của nhà xuất bản Trẻ. Đây là tiếng nói và bài học kinh nghiệm thực tiễn của 20 nhà lãnh đạo hàng đầu của nhiều doanh nghiệp quốc tế. MNCs (Mult National Companies) đã và đang thành công tại Trung quốc. Sách do Nguyễn Hữu Thái (dịch).

Đặc biệt, sách nêu lên được các vấn đề gay go mà một nền kinh tế như Trung Quốc phải đối đầu và điều quan trọng là họ đã thành công trong chủ động phát triển và hội nhập, chỉ trong vòng mấy mươi năm vươn lên như một cường quốc kinh tế thế giới. Mục lục sách dưới đây cho bạn thấy các nội dung đó:

Chương 1: Những phẩm chất của nhà quản lý quốc tế thành công tại Trung Quốc

Chương 2: Quản lý nhân viên Trung Quốc

Chương 3: Làm việc với các đối tác kinh doanh

Chương 4: Giao tiếp với trụ sở chính

Chương 5: Đối đầu với các đối thủ cạnh tranh

Chương 6: Đấu tranh chống nạn xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Chương 7: Chinh phục người tiêu dùng Trung Quốc

Chương 8: Thương lượng với các cấp chính quyền Trung Quốc

Chương 9: Sinh sống ở Trung Quốc

Chương 10: Kết luận

Vậy sách có gì hay và cho ta biết điều gì? Trước và sau khi tham gia WTO sẽ có những vấn đề gì? Vấn đề và giải pháp để hội nhập thành công?

Kinh nghiệm hội nhập của Trung Quốc. Các mặt mạnh – yếu của một nền kinh tế chỉ huy tập trung khi bước sang kinh tế thị trường. Vì sao cần đọc cẩm nang dành cho người nước ngoài vào làm ăn, kinh doanh ở Trung Quốc?

Câu trả lời thật đơn giản: Các tác giả tuy khai thác chủ đề hành xử của các công ty đa quốc gia vào làm ăn ở Trung Quốc, nhưng lại trình bày được một cách tài tình toàn cảnh, tình hình phát triển và hội nhập của Trung Quốc suốt mấy thập kỷ qua, nhất là giai đoạn nước này gia nhập WTO. Những vấn đề mà các công ty đa quốc gia phải đối mặt, bản thân Trung Quốc phải giải quyết gần như giống hệt tình hình đất nước ta trong giai đoạn hội nhập vào thị trường kinh tế thế giới hôm nay.

Ai nên đọc “CEO ở Trung Quốc”?

Đó là những người quan tâm đến kinh doanh và phát triển tổ chức của mình, phát triển xã hội và thành công trong môi trường kinh tế văn hoá – xã hội đang ngày càng toàn cầu hoá, từ Giám đốc doanh nghiệp nhỏ hay các doanh gia nghiệp chủ lớn đến những bạn trẻ có ước mơ và hoài bão đẹp trong việc phát triển kinh tế – kinh doanh đều nên đọc.

Hẳn nhiên các nhà tư vấn cho các doanh nghiệp, không chỉ là tư vấn Luật hay tài chính mà đặc biệt các nhà tư vấn trong các hoạt động thực tiễn để giúp xây dựng các giải pháp, chiến lược phát triển kinh tế tại quốc gia điạ phương cho các công ty MNCs cũng rất nên đọc để bổ sung cho vốn sống và kiến thức của mình cũng như thêm các giải pháp cho các khách hàng cần đến dịch vụ tư vấn.

Lý Trường Chiến

Sử Dụng PHP & MySQL Thiết Kế Web Động

Giới thiệu về nội dung:

Ngày nay, các Web site tĩnh với các trang HTML đơn giản không còn đáp ứng được nhu cầu của người dùng. Các Web site động kết hợp với cơ sở dữ liệu đã trở thành xu thế phát triển Web.
Cuốn sách này sẽ giới thiệu với các bạn hai công nghệ phổ biến nhất được dùng để tạo các Web site động: ngôn ngữ kịch bản PHP và chương trình quản lý cơ sở dữ liệu MySQL. Thông qua các bước thực hành được hướng dẫn cụ thể, các mã kịch bản rõ ràng với nhiều gợi ý chuyên môn, cuốn sách sẽ giúp bạn tìm hiểu tổng quát về công nghệ trước khi đề cập tới các vấn đề cụ thể như: an toàn, session và cookie, sử dụng các công cụ Web… Ở phần cuối cuốn sách, chúng ta sẽ áp dụng các kỹ thuật đã được giới thiệu để xây dựng hoàn chỉnh một số ứng dụng mẫu.
Xin trân trọng giới thiệu.

Tinh hoa quản trị của Drucker

Tinh hoa quản trị của Drucker

Tác giả:Peter F. Drucker
Dịch giả:Nguyễn Dương Hiếu
Năm xuất bản:2008
Đơn vị xuất bản:Trẻ
Số trang:432
Giá sách:72.000

“Tinh hoa quản trị của Drucker” (The Esential Drucker) là một tập hợp từ các công trình và bài viết của tôi trong suốt 60 năm trở lại đây. Nó bắt đầu bằng cuốn sách “Tương lai của con người công nghiệp” (The future of industrial man) (1942) và kết thúc – tính cho đến nay – với cuốn sách ra đời năm 1999 “Thách thức quản trị cho thế kỷ XXI” (Management challenges for the 21st century).

Cuốn sách này có hai mục đích. Một là, tôi hy vọng, nó sẽ cung cấp cho độc giả một giới thiệu rõ ràng và tương đối đầy đủ về quản trị học. Hai là, cuốn sách trình bày tổng quan các công trình của tôi về quản trị, theo đó nó giúp trả lời một câu hỏi mà tôi và các nhà biên tập thường xuyên nhận được từ độc giả: Tôi có thể bắt đầu đọc Drucker từ đâu? Tác phẩm nào của ông ta là quan trọng?

Người bạn Nhật Bản thâm niên của tôi, Atsuo Ueda, là người đề ra ý tưởng làm cuốn sách này. Vốn dĩ chính ông cũng đã có một sự nghiệp xuất sắc về quản trị tại Nhật. Khi đến tuổi sáu mươi, ông chuyển sang một hướng khác, trở thành nhà sáng lập và giám đốc điều hành của một trường đại học kỹ thuật mới tại Tokyo. Ông Ueda là dịch giả và biên tập viên cho nhiều tác phẩm của tôi trong suốt ba mươi năm. Vì vậy, ông rất quen thuộc các tác phẩm này; trong một chừng mực nào đó, còn hơn chính tác giả nữa. Lẽ tự nhiên là ông được mời tham dự và chủ trì rất nhiều hội thảo, hội nghị về các công trình của tôi tại Nhật. Tại những nơi đó, ông liên tục được hỏi đi hỏi lại – nhất là từ những thanh niên, gồm cả sinh viên và các nhà quản lý mới bắt đầu sự nghiệp – một câu hỏi: Tôi có thể bắt đầu đọc Drucker từ đâu?

Điều này khiến ông Ueda phải đọc lại toàn bộ tác phẩm của tôi, chọn ra những chương thích hợp nhất, cô đọng và tóm tắt chúng sao cho độc giả có thể đọc chúng như là một văn bản thống nhất, toàn vẹn. Kết quả là một bộ sách ba cuốn ra đời gồm 57 chương: một cuốn về quản trị tổ chức, một cuốn về cá nhân trong xã hội các tổ chức, và một cuốn về xã hội nói chung. Ba tập sách này được xuất bản tại Nhật Bản vào mùa xuân và mùa thu năm 2000, thu được thành công lớn. Sau đó, chúng cũng được xuất bản tại Đài Loan, Trung Quốc và Hàn Quốc, Argentina, Mexico và Brazil.

Các tập sách nói trên đã được dùng trong quá trình biên soạn “Những tác phẩm tiêu biểu của Drucker” ở Anh và Mỹ. Tuy nhiên ấn bản này chỉ có dung lượng gần bằng một nửa ấn bản tiếng Nhật của Ueda: 26 chương thay vì 57 chương. Ngoài ra, ấn bản tiếng Anh cũng tập trung vào một khía cạnh khác. Cass Canfield Jr. thuộc nhà xuất bản HarperCollins – người bạn lâu năm, và cũng là người biên tập cho tôi trong suốt ba mươi năm – cách đây vài năm cũng đi tới kết luận rằng cần có một giới thiệu và tổng quan cho sáu mươi năm nghiên cứu về quản trị của tôi. Tuy nhiên, ông ta đã chính xác khi cho rằng độc giả Anh – Mỹ (và nói chung là độc giả phương Tây) của một cuốn sách như trên vừa nhiều hơn, lại vừa ít hơn độc giả Nhật Bản. Sở dĩ nhiều hơn là vì ở phương Tây càng ngày càng có nhiều người quan tâm yêu thích quản trị (dù chưa hẳn đó là nghề của họ); nhiều sinh viên coi hiểu biết về quản trị là một phần trong kiến thức cơ bản (dù chưa hẳn họ đã theo chuyên ngành này); cũng như việc rất nhiều nhà quản lý / nhà chuyên môn đang làm việc đổ xô theo học các chương trình đào tạo quản trị nâng cao cả ở trong các trường đại học và ở tại ngay tổ chức của họ. Tuy nhiên, sự tập trung của độc giả cũng ít hơn, hẹp hơn bởi lẽ những độc giả mới này không muốn hay cần sự giới thiệu và tổng quan về các tác phẩm của Drucker; ngược lại họ chỉ quan tâm đến quản trị học với những nét chính mà thôi. Chính vì những lẽ đó, trong quá trình biên tập từ ấn bản của Ueda, Cass Canfield Jr. (với sự hỗ trợ nhiệt tình của tác giả) đã chọn lọc và biên tập từ ấn bản 3 tập nói trên thành một tập sách giới thiệu về quản trị học đầy đủ, gắn kết, độc lập – cả về quản trị doanh nghiệp lẫn tự quản trị đối với cá nhân, dù là nhà quản lý hay người làm chuyên môn, trong phạm vi một doanh nghiệp hay trong xã hội gồm các tổ chức được quản lý.

Cả độc giả và tác giả cuốn sách này đều phải cảm ơn rất nhiều đối với Atsuo Ueda và Cass Canfield Jr. Họ đã dành công sức và nhiệt tình to lớn vào cuốn sách. Cuốn sách không chỉ là một sự giới thiệu tốt nhất cho công trình của một tác giả; nó còn là một lời giới thiệu độc lập, gắn kết và độc đáo cho quản trị học cũng như các nguyên tắc cơ bản, các vấn đề, thách thức và cơ hội của quản trị.

Như đã nói trước, tập sách này cũng là tổng quan về các công trình nghiên cứu quản trị học của tác giả. Độc giả có thể muốn biết và nghiên cứu thêm về các đề tài trong cuốn sách mà họ quan tâm. Sau đây là nguồn gốc ban đầu của từng chương trong cuốn sách này.

Chương 1 và chương 26: trích từ “Hiện thực mới” (New realities), 1988.

Chương 2, 3, 5 và 18: trích từ “Quản trị, nhiệm vụ, trách nhiệm, thực hành” (Management, tasks, responsibilities, practices), 1974.

Chương 4 và chương 19: trích từ “Quản trị cho tương lai” (Managing for the future), 1992. Hai chương này từng được đăng lần đầu trên Harvard Business Review (1989) và Wall Street Journal (1988).

Chương 6, 15 và 21: trích từ “Thách thức quản trị cho thế kỷ XXI” (Management challenges for the 21st century), 1999.

Chương 7 và chương 23: trích từ “Quản trị trong thời kỳ có những thay đổi lớn” (Management in a time of great change), 1995. Hai chương này từng được đăng lần đầu trên Harvard Business Review (1994) và Atlantic Monthly (1996).

Chương 8 trích từ “Thực hành quản trị” (The practice of management), 1954.

Chương 9 trích từ “Các biên giới của quản trị” (The frontiers of management), 1986. Chương này từng được đăng lần đầu trên Harvard Business Review (1985).

Chương 10, 11, 12, 20 và 24: trích từ “Đổi mới và kinh doanh” (Innovation and entrepreneurship), 1985.

Chương 13, 14, 16 và 17: trích từ “Nhà quản trị hiệu quả” (The effective executive), 1966.

Chương 22 và chương 25: trích từ “Xã hội hậu tư bản” (Post-capitalist society), 1993.

Tất cả những tác phẩm trên hiện vẫn đang có bán ở Mỹ và nhiếu quốc gia khác.

Tuy nhiên, tập “Những tác phẩm tiêu biểu của Drucker” này không bao gồm chương nào trích từ năm tác phẩm quan trọng khác về quản trị của tác giả, đó là “Tương lai của con người công nghiệp” (The future of industrial man) (1942), “Khái niệm công ty” (Concept of the corporation) (1946), “Quản trị kết quả” (Managing for results) (1964: là cuốn sách đầu tiên viết về cái ngày nay gọi là “chiến lược” – vốn chưa là một khái niệm kinh doanh 40 năm trước đây), “Quản trị trong thời kỳ hỗn loạn” (Managing in turbulent times) (1980), và “Quản trị các tổ chức phi lợi nhuận” (Managing the non-profit organization) (1990). Đây là các tác phẩm quan trọng và hiện vẫn đang được độc giả đón nhận và áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên chủ đề của chúng mang tính chuyên môn và đôi khi mang tính kỹ thuật cao hơn những cuốn sách có các chương được trích ra trong tập sách này, do đó không thích hợp có mặt trong một tuyển tập mang tên “Những tác phẩm tiêu biểu của Drucker”.

Peter F. Drucker

Claremont, California

Mùa xuân 2001

Tạp chí CNTT Echip – số 212

Cuối cùng thì Google cũng chính thức phát hành nền tảng mở Android 2.0 có tên mã là Eclair, xuất hiện chính thức với mẫu Motorola Droid mà nhà mạng Verizon vừa cho ra mắt. Song song đó, theo thông tin từ Google thì phiên bản này cũng cho phép 1 số mẫu điện thoại như HTC Hero, G1 nâng cấp miễn phí. Đây được xem là bước phát triển mạnh mẽ của nền tảng non trẻ này, được dự đoán sẽ gây ảnh hưởng lớn đến thị trường HĐH smartphone hiện nay…

– Google chính thức phát hành Android 2.0

– SamSung i6700 Galaxy Spica, Android nhanh nhất.

– SamSung Ominia Pro 7320 – “Gỗ” tốt, “nước sơn” khá.

– BlackBerry Tour – Smartphone cho người thích du lịch.

– Cách sạc pin, dùng pin sao cho đúng?

– So sánh điện thoại Nokia N97 – iPhone 3GS và Spny Ericsson.

– Một số phần mềm hay cho điện thoại Symbian.

– Chọn nhạc chuông dễ dàng cho iPhone với AnyRing.

– Theo dõi điện thoại bằng iGoogle.

– Chuyển mọi định dạng Audio/Video với Total Video Converter.

– Nén và giải nén siêu mạng cho Windows Mobile với Pocket Rar.

– Xem mật khẩu lưu trong điện thoại Windows Mobile.

KỸ THUẬT TRỒNG – CHĂM SÓC – CHẾ BIẾN CÀ PHÊ

– Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản nhiệt đới xuất khẩu có nguồn thu nhập vào loại cao của nước ta hiện nay. Việc trồng, chăm sóc và chế biến cà phê do đó cũng rất được chú trọng.
Những tiến bộ kỹ thuật mới trong việc phát triển vườn cà phê, những kinh nghiệm phong phú được đúc kết từ lâu để có được những cây cà phê cho năng xuất cao, hiệu quả… đã được biên soạn trong KỸ THUẬT TRỒNG – CHĂM SÓC – CHẾ BIẾN CÀ PHÊ. Nội dung cơ bản gồm 5 phần: Một vài nét chung về sản xuất cà phê ở Việt Nam và trên thế giới; Một số yêu cầu chung về điều kiện ngoại cảnh và sinh lý của cây cà phê; Các biệp pháp kỹ thuật chủ yếu để trồng, chăm sóc cà phê; Phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại; Chế biến và bảo quản cà phê.

Tiếu lâm chính trị (Việt Nam, năm 1980)

Tiếu lâm chính trị (Việt Nam, năm 1980)

Trần Khốt

Lời rào đầu
Tiếu lâm nói chung và tiếu lâm chính trị nói riêng là thể loại văn học dân gian truyền miệng tồn tại lâu đời ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam ta. Tuy nhiên, trong cuốn sách “mini” này, người sưu tầm (nói cho đúng hơn: người nghe và ghi) chỉ dám “khoanh vùng” mảng tiếu lâm chính trị năm 1980. Có hai lý do khiến tôi làm như vậy. Thứ nhất, đó là năm ở ta rộ lên nhiều chuyện tiếu lâm chính trị (hệ quả hiển nhiên của thời kỳ trì trệ trước khi cả nước bước vào vận hội Đổi mới). Thứ hai, đó cũng là năm tôi gặp “hoạ”, có tới mấy tháng phải nằm bẹp tại Bệnh viện Trưng Vương và Viện Điều dưỡng (Tp. Hồ Chí Minh). Thế nhưng, trong “hoạ” lại có… “phúc”. Đúng mấy tháng dài nằm viện ấy, tôi được dịp làm quen với nhiều cán bộ mọi miền. Và điều đáng nói là chính họ đã kể cho tôi cùng đám bạn chung cảnh ngộ nghe đủ thứ chuyện tiếu lâm, mà đa phần là tiếu lâm chính trị. Giữa lúc ngay cả bệnh nhân cán bộ cũng phải chia sẻ tình trạng thiếu thuốc, thiếu ăn với bà con dân thường thì những mẩu chuyện tiếu lâm cùng những câu vè mà bọn tôi rỉ rả kể cho nhau nghe quả là liều thuốc và món ăn tinh thần vô giá.
Mục lục
Lời “rào đầu”
1.Mách nước Diêm Vương
2.Nhất thế giới
3.Nhất trí 100%
4.Toà nhà không hố xí
5.Ăn qua loa
6.Hàng xuất khẩu đặc biệt
7.Đồng chí Sáu La Mã
8.Bà con Lênin ở Việt Nam
9.Chùm chuyện Phạm Tuân bay vào vũ trụ
-Dễ biết quá
-Chỉ riêng Việt Nam
-Đồng hương trên vũ trụ
-Đỏ tay và đỏ má
10.Câu hỏi định mệnh
11.Lên nhanh nhất và xuống nhanh nhất
12.Bộ ta có nhà máy gì?
13.Lệnh anh
14.Ba Vấn đề đầu tiên
15.Lý lịch vào khối SEV
16.Kít chê Đặng ngu
17.Phần Việt Nam…
18.Họ “Tôn Thất”
19.Cả ngày xếp hàng
20.Bạn học anh Ba
21.Tin vào Đảng…
22.Một phần ba
23.“Bảng đỏ, sao vàng”
24.Chỉ cần ném…
25.Ai được dân thích nhiều hơn?
26.Ba thủ lợn
27.Chuyện lương…
28.Đầy tớ nhân dân
29.Đưa hình đi đâu?
30.Quái vật Thái Bình Dương
31.Nhại thơ, hoạ thơ Tố Hữu
32.“Ngang” như… Nguyễn Tuân
33.Bãi lầy đo tội
34.Tranh, tượng biết nói
35.Ba con vẹt
36.Người mới
37.Quốc ca mới
38.Dọn nhà
39.Có anh Ba… Lăm
40.Mong sống lâu
41.Lẫn
42.Không có ba cây…
43.Hoài Thanh mất tích
44.Ngọc Hoàng cũng khóc
45.Lại chuyện Ngọc Hoàng cũng khóc
46.Theo lời các cụ
47.Môn thi đấu mới
48.Tin kỳ cục trên trần
49.Địch sao nổi!
50.Bốn tấm hình
51.Con trai anh Năm
52.Rùa ngựa, ngựa rùa
53.Ám chỉ ai?
54.Xứng đáng là tổng bí thư

Phụ lục
1.Vè “tiêu cực” và dăm chuyện đặt vè
-Báo Đảng sợ… vè “tiêu cực”
-Vè chợ búa
-Vè lương tháng
-Vè giáo dục
-Vè làng văn
-Vè Phạm Tuân
2.Vài chuyện tiếu lâm Sài Gòn trước năm 1975
Cầu Thượng đế phù hộ
Dân chúng đỡ khổ
Ông bầu
Tranh khoả thân
Dọn nhà
3.Vài chuyện tiếu lâm chính trị Trung Quốc, Liên Xô, Đức
TRUNG QUỐC Mao Chủ tịch nói… LIÊN XÔ
-Chùm chuyện tiếu lâm thời Khơrútsốp
+Khơ chết ngất
+Khơ sợ “tệ sùng bái cá nhân Khơrútsốp”
+Bội thu và thất thu
+Xêđenban mặc áo mưa
+Quỷ sứ cũng phải sợ
-Chùm chuyện tiếu lâm thời Brrzhnev
+Dân say bét nhè
+Đồ dối trá
+Chưa tỉnh hôn mê
+Không sợ chuyện tiếu lâm
+Người kế nhiệm
ĐỨC
Chùm chuyện tiếu lâm thời Hítle

Tìm hiểu người Nhật Bổn (Để biết rõ những nhược-điểm của ta)

TÌM HIỂU NGƯỜI NHẬT-BỔN
Để biết rõ những nhược-điểm của ta.

TRẦN-MINH-TIẾT

Quyển “Tìm Hiểu Người Nhật Bổn” của cụ Trần Minh Tiết do nhà xuất bản Thông Tin Nam Việt phát hành năm 1954. Tác phẩm này được Thư Viện Đông Dương – Toyobunkou, Tokyo bảo hành rất chu đáo.
Trong tinh thần vô vị lợi, bản điện tử này được chia sẻ đến bạn đọc trong mục đích cùng xem lại cách nhìn của người đi trước về Nhật Bản.
Với bản điện tử này, cùng với cụ Trần Minh Tiết, chúng tôi xin kính gửi đến bạn đọc lời cụ Trần Minh Tiết đã ghi trong trang mở đầu của tác phẩm :
” KÌNH TRỌNG : đề tặng những ai thật tình muốn cho xứ sở càng ngày càng thêm hùng mạnh “

Cây táo và kỹ thuật trồng

Đất nước ta, trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay, vấn đề xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và chính phủ. Nông dân và tầng lớp nhân dân ở mọi miền đất nước đã và đang thực hiện chủ trương này rất có hiệu quả (phát triển nghề làm vườn mà trong đó chủ yếu là trồng các loại cây ăn quả, làm VAC…) nâng cao đời sống rất rõ rệt, thậm chí có những nông hộ vươn lên làm giàu từ nghèo khó nhờ biết vận dụng kiến thức khoa học, biết thâm canh kỹ thuật và biết chọn giống tốt… Trên các địa bàn đồng bằng, trung du và miền núi ngày càng có nhiều điển hình làm vườn giỏi, đã có nhiều hội thảo về bàn cách làm ăn giỏi, về đúc rút kinh nghiệm và về các gương sáng làm giàu từ nghề vườn. Nghề làm vườn đang phát triển mạnh nhằm thõa mãn thị trường tiêu thụ nông sản phẩm trong và ngoài nước với yêu cầu ngày càng cao về sản lượng và chất lượng. Người làm vườn đều mong có những giống cây quý, giống tốt để đem lại năng suất thu hoạch cao, vị thơm ngon, mà quả đẹp và cho thu hoạch cả bốn mùa. Để giúp cho người làm vườn có thêm tư liệu, kiến thức căn bản của kỹ thuật làm vườn. Nhà xuất bản lao động Xã hội cho xuất bản một bộ sách về kỹ thuật trồng cây ăn quả:
1. Cây xoài & kỹ thuật trồng
2. Cây đu đủ & kỹ thuật trồng
3. Cây hồng xiêm & kỹ thuật trồng
4. Cây táo & kỹ thuật trồng
5. Cây mơ mận & kỹ thuật trồng
Từng cuốn sách chỉ đề cập đến một cây ăn quả hoặc một nhóm cây để đông đảo bạn độc thuận tiện trong áp dụng vào sản xuất. Sách trình bày ngắn gọn, phù hợp với nội dung và kiến thức cơ bản cũng như kinh nghiệm dân gian và kinh nghiệm của nhà nghiên cứu thực nghiệm trong nhiều năm qua, giúp các bạn thành công trong việc tạo cho mình một hướng đi đúng đắn nhằm thực hiện tốt hơn nữa những chủ trương “Xóa đói giảm nghèo”, phủ xanh đất trống, đồi trọc và làm giàu từ mảnh vườn của mình. Chắc chắn rằng từng cuốn sách không tránh khỏi thiếu sót, chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của bạn đọc để lần tái bản sau được tốt hơn.

Tướng NAVARRE Với Trận Điện Biên Phủ

Jean Pouget

Tướng NAVARRE Với Trận Điện Biên Phủ

LÊ KIM Dịch và chú thích
Nguyên bản tiếng Pháp “Nous étions à Dien Bien Phu”, Nhà xuất bản Presses de la Cité
Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân

Tóm tắt nội dung:

Được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp Nous étions à Dien Bien Phu của Jean Pouget, sĩ quan tùy tùng kiêm thư ký riêng của đại tướng Henri Navarre – Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Pháp ở Đông Dương và là người bị nhiều công kích, chỉ trích nhất sau thất bại thảm hại tại Điện Biên Phủ vào tháng 5 năm 1954.

Là người từng trải qua những giờ phút nghiêm trọng nhất của cuộc chiến tranh Đông Dương, từ cơ quan Bộ Tổng tư lệnh đến tận mũi nhọn của trận chiến; đồng thời sau đó bỏ ra hàng chục năm sưu tầm tài liệu, gặp gỡ nhân chứng, hệ thống lại những hồi ức, tác giả đã trình bày lại vấn đề Điện Biên Phủ một cách đầy đủ và sâu sắc. Đặc biệt, sách không chỉ viết về những điều tướng Navarre đã tuyên bố công khai mà còn tiết lộ những điều tướng Navarre viết trong báo cáo mật và cả những lời bộc lộ riêng tư, thầm kín. Thông qua cuốn sách này, người đọc sẽ được cung cấp nhiều sự thật bổ ích về Điện Biên Phủ.

Cây vừng kỹ thuật trồng năng suất và hiệu quả kinh tế

A. CÂY VỪNG
I. Giá trị kinh tế của cây vừng
II. Vài nét về tình hình sản xuất vừng trên thế giới và trong nước ta
III. Vài nét cơ sở sinh học của cây vừng
IV. Yêu cầu về sinh lý, sinh thái của cây vừng
V. Giống vừng
B. KỸ THUẬT TRỒNG VỪNG
I. Chọn và làm đất
II. Chế độ luân canh
III. Bón phân
IV. Thời vụ và cách gieo hạt
V. Chăm sóc
VI. Phòng trừ sâu bệnh
VII. Thu hoạch và bảo quản
VIII. Vài nét về hiệu quả kinh tế của sản xuất vừng
Tài liệu tham khảo

Yamamoto Con Rồng Thái Bình Dương

YAMAMOTO Con Rồng Thái Bình Dương

Tác giả: Nguyễn Vạn Lý

Ngày nay hẳn người Nhật vẫn còn nhớ tới hàng trăm ngàn binh sĩ của họ đang yên nghỉ trong lòng biển, suốt từ Thái Bình Dương cho mãi tới tận Ấn Ðộ Dương. Họ cũng có thể nghe thấy tiếng thì thầm phẫn uất từ đáy đại dương của những vong hồn thủy thủ này, những chiến sĩ can trường của Hải Quân Hoàng Gia Nhật đã hy sinh đời mình không thương tiếc, nhưng đã thất bại không đem lại được vinh quang cho Nhật Hoàng và tổ quốc. Ðây là những chiến sĩ hải quân Nhật một thời tung hoành chiến đấu theo nhật lệnh của đô đốc Yamamoto, đã làm Thái Bình Dương dậy sóng, đi từ chiến thắng này tới chiến thắng khác, và đã đánh bại hải quân hùng mạnh của Hoa Kỳ, Anh quốc và Hòa Lan. Trong suốt hơn một năm, từ chiến thắng hiển hách tại Trân Châu Cảng ngày 7-12-1941 cho tới ngày 18-4-1943 bị không quân Mỹ phục kích ám sát tại đảo Bougainville, đô đốc Yamamoto quả thực là một con rồng của huyền thoại, gây sóng gió và làm chủ một chiến trường mênh mông, bao gồm cả Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương. Các địch thủ của Yamamoto vừa căm hận ông vừa kính sợ ông, một chiến lược gia hải quân phi thường trong đệ nhị thế chiến.

Mục lục

1. Người Hùng Sơn-Bản Ngũ-Thập-Lục
2. Thằng Bé Năm-Mươi-Sáu
3. Thần Phong
4. Trận Hải Chiến Ðối Mã
5. Người Vợ Ăn Chắc Mặc Bền
6. Anh Hùng Và Giai Nhân
7. Thứ Trưởng Bộ Hải Quân: Phát Triển Hải Quân Nhật
8. Cuộc Nổi Loạn Năm 1936
9. Cuộc Trung Nhật Chiến Tranh
10. Ðại Ðô Ðốc Thái Bình Dương: Cả Ðời Say, Một Mình Ta Tỉnh
11. Tư Lệnh Liên Hạm Ðội Nhật
12. Những Sửa Soạn Cho Trận Trân Châu Cảng – Ðông Dương: Giọt Nước Tràn Ly
13. Một Kế Hoạch Quá Táo Bạo
14. Những Chuẩn Bị Cuối Cùng
15. Vai Trò Của Tiềm Thủy Ðỉnh Nhật
16. TiếnTới Ðiểm Xuất Quân Tại Hawaii
17. Trận Ðánh Trân Châu Cảng
18. Hùm Xám Mã Lai Và Trận Ðánh Tân Gia Ba
19. Trận Ðánh Biển San Hô
20. Trận Thủy Chiến MIDWAY
21. Rồng Thiêng Khi Ðã Sa Cơ

Hỏi Đáp Về Kỹ Thuật Trồng Hoa Và Cây Cảnh Trong Nhà

Hỏi Đáp Về Kỹ Thuật Trồng Hoa Và Cây Cảnh Trong Nhà
Tác giả: Jiang Qing Hai. – Dịch giả: Trần Văn Mão.
Nhà xuất bản: Nxb Nông nghiệp

Hoa là tượng trưng của cái đẹp, là nguồn cảm giác ngọt ngào của cuộc sống. Khi con người vui vẻ nhìn thấy một đóa hoa tươi sẽ có cảm giác thơm ngọt trong không gian; khi tâm tình không sảng khoái nhìn đóa hoa tươi sẽ thấy một làn gió xuân an ủi, làm mất đi nỗi buồn trong lòng.

Hoa trong cuộc sống con người chiếm một địa vị thẩm mỹ quan trọng. Hoa mẫu đơn, thược dược có đặc sắc thiên tư; hoa sơn trà, nguyệt quế có tính kiều diễm;; hoa cúc thì sán lạn, hoa mai mảnh mai như người con gái đẹp; hoa quế có mùi thơm bay tỏa đi khắp nơi; hoa hồng có mùi ngọt mê hồn. Hoa phù dung có mùi thơm lan tỏa trong nước. Còn Hoa lan có mùi thơm êm dịu, làm cho con người trầm tĩnh thoát tục. Người ta ví hoa lan tượng trưng cho người quân tử, tượng trưng cho lý tưởng nhân cách, hoa huệ tượng trưng cho đại sĩ phu, có tính khẳng khái. Các nghệ sĩ cũng phải mượn hoa để tạo hình

Mấy năm nay nghề trồng hoa, cây cảnh đã phát triển. Người ta dùng hoa tươi để chúc mừng lễ tết, kết hôn, thăm viếng bạn bè và trở thành một vật phẩm tinh thần không thể thiếu được trong môi trường đẹp, cuộc sống đẹp và tâm linh đẹp.

Cây cảnh có nhiều loại: Loại xem lá, xem hoa, xem quả… Nhưng nhiều nhất vẫn là cây cảnh xem hoa. Cây cảnh xem hoa, xem quả thường có xuất xứ ở nhiều vùng khác nhau, thường được trồng trong chậu để ngoài trời hoặc trồng trên đất vườn; còn cây cảnh xem lá thường xuất xứ ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và được trồng vào chậu để trong nhà. Tất cả đều được gọi chung là hoa và cây cảnh.

Hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo quý, đáp ứng phần nào nhu cầu về trồng hoa và cây cảnh hiện nay của đông đảo độc giả.

Mời bạn đón đọc.

Với Lý Luận Giỏi – Giới Thiệu Những Ngụy Biện Thông Thường

Với Lý Luận Giỏi — Giới Thiệu Những Ngụy Biện Thông Thường

Morris S. Engel

Engel, Morris S. With Good Reason — An Introduction to Informal Fallacies. 5th edition. New York: St. Martin’s Press, 1994.

Tác Giả
Engel, Morris S. With Good Reason — An Introduction to Informal Fallacies. 5th ed. New York: St. Martin’s Press, 1994. Morris S. Engel. Với Lý Luận Giỏi — Giới Thiệu Những Ngụy Biện Thông Thường. x/b 5th. New York: St. Martin’s Press, 1994.
S. Morris Engel (Tiến Sĩ Khoa Học, Đại Học Toronto) là một giáo sư triết học tại Đại Học York ở Toronto, Ontario. Trước đó, ông dạy tại trường Đại Học Miền Nam California (University of Southern California). Những tác phẩm của ông bao gồm Nghiên Cứu Triết Học (The Study of Philosophy), 31e (1990) và Cái Bẫy của Ngôn Ngữ (The Language Trap), (1984 và 1994), bên cạnh những cuốn sách học thuật như học thuyết của Wittgenstein về sự chuyên chế của ngôn ngữ (1971). Những mối quan tâm về học thuật của giáo sư Engel là ngôn ngữ của lo-gic và triết học. Tuy nhiên, ông cũng nổi tiếng với nhiều tác phẩm về Tiếng Đức Cổ (Yiddish). Những tác phẩm của ông gồm Dybbuk (Lên Đồng) (1974-1979), Lễ Ban Phước Hashem (Kiddish Hashem) (1977), v.v….
Phiên Dịch: Tô Yến Nhi, Võ Hồng Long, Vũ Thắng và Lê Nga Điều Hành: Nguyễn Lưu Trọng Quyền. Phiên bản nhất này, chúng tôi dịch lại cuốn sách của Giáo Sư Morris S. Engel. Trong nh ững phiên bản sau, chúng tôi sẽ sưu tầm những sai lầm trong các bài tham luận trên báo chí Việt Nam trong và ngoài nước.

Mục Lục
Tác Giả
Phần I
Chương 1(Vũ Thắng dịch) Bản Chất và Phạm Vi của Lo-gic (Nature and Scope of Logic)
1. Lý Luận vừa là Một Môn Khoa Học và Môn Nghệ Thuật
2. Lo-gic là Nghiên Cứu về Tranh Luận
3. Tranh Luận và Không-Tranh-Luận
4. Loại Bỏ Sự Dông Dài
5. Những Bộ Phận Khuyết Thiếu
6. Làm Nổi Bật những Thành Phần Khả Nghi
7. Đánh Giá các Tranh Luận: Đúng, Giá Trị và Hợp Lý
8. Những Tranh Luận Suy Diễn và Quy Nạp
9. Lý Luận và Giáo Dục
10. Tóm Tắt

Chương 2 (Tô Yến Nhi dịch) Phương Tiện Truyền Đạt của Ngôn Ngữ
1. Ngôn Ngữ và Tư Duy
2. Dấu Hiệu và Biểu Tượng
3. Từ ngữ và Vật Chất
4. Sự Hữu Dụng của Ngôn Ngữ
5. Sự Tối Nghĩa và Mơ Hồ
6. Những Tranh Luận về Từ Ngữ
7. Định Nghĩa
8. Nghệ Thuật Nói Chuyện Trực Tiếp
9. Tóm Tắt

Phần II
Chương 3 (Tô Yến Nhi dịch) Những Ngụy Biện do Sự Tối Nghĩa
1. Lối Nói Lập Lờ
2. Câu Nói Nước Đôi
3. Dấu Trọng Âm
4. Phép Tu Từ
5. Sự Phân Hóa và Kết Cấu
6. Tóm Tắt

Chương 4 (Võ Hồng Long dịch) Những Ngụy Biện của Giả Định Bỏ Qua Những Yếu Tố Cơ Bản
1. Khái Quát Hoá
2. Gôm Đũa Cả Nắm
3. Lý Luận Rẽ Đôi Lảng Tránh Sự Thật
4. Lập Lại Vấn Đề
5. Ngôn Ngữ Cường Điệu hay Thành Kiến
6. Phức Tạp Hóa Vấn Đề
7. Biện Hộ Đặc Biệt Bóp Méo Sự Thật
8. Tương Đồng Giả Tạo
9. Sai Nguyên Nhân
10. Lý Luận Rập Khuôn
11. Luận Điểm Không Phù Hợp
12. Tóm Tắt

Chương 5 (Lê Nga dịch) Ngụy Biện Tính Xác Đáng
1. Công Kích Cá Nhân
Căn nguyên
Lăng mạ
Suy diễn gián tiếp
Xem ai nói đó
Đầu độc nguồn nước
2. Kêu Gọi Đám Đông
3. Kêu Gọi Lòng Thương
4. Kêu Gọi Quyền Lực
Quyền lực của cái duy nhất
Quyền lực của số đông
Quyền lực của số ít được lựa chọn
Quyền lực của truyền thống
5. Đánh Vào Sự Không Biết
6. Kêu Gọi Sự Sợ Hãi
7. Tóm Tắt

Phần III
Chương 6 (Võ Hồng Long dịch) Viết Rõ Ràng và Chặt Chẽ
1. Khái Quát Về Cấu Trúc Một Bài Luận
Mở đầu
Thân bài
Phần kết
2. Xây Dựng Một Bài Luận
Tìm kiếm chủ đề
Cụ thể hoá chủ đề của bạn
Quá trình động não
Viết tự do
Đặt vấn đề
Xây dựng một luận đề
Xem xét về mặt tu từ
Độc giả và sự lựa chọn ngôn từ
Xắp xếp các đoạn văn một cách hiệu quả
Sửa chữa
3. Chú Ý Cuối Cùng: Ngữ Pháp và Cách Sử Dụng
Chương 7 Những Bài Đọc Gợi Ý
Bảng Chú Dẫn

Ông tướng tình báo và hai bà vợ

Nhà văn Nguyễn Trần Thiết :
* Nguyễn Trần Thiết là tên khai sinh, đồng thời là bút danh, sinh ngày 1 tháng 5 năm 1929 tại thôn Tự Nhiên, xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Hiện ở Hà Nội. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1986).

* Nguyễn Trần Thiết từng là chiến đấu viên rồi chính trị viên đại đội thuộc đại đoàn chủ lực 312 có mặt ở nhiều chiến dịch lớn, trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm 1953 làm phóng viên mặt trận báo Quân đội nhân dân và công tác ở tờ báo này cho đến năm 1989, về hưu với quân hàm Đại tá.

* Tác phẩm đã xuất bản (những tác phẩm chính): Trưởng thành (truyện, 1978); Chiến công thầm lặng (truyện, 1981); Dọc ngang trong lòng địch (truyện ký, 1981); Điệp viên 04 (truyện ký, 1982); Người giao liên tình báo (truyện ký, 1983); Gia đình biệt động (truyện ký, 1984); Chuyện anh Năm Mộc (truyện ký, 1984); Chú bộ đội ham học (truyện, 1984); Nhập vai ông chủ lớn (truyện ký, 1985); Vùng đất sôi động (truyện, 1986); Nữ tướng Phunrô (truyện, 1987); Kẻ cuồng vọng mang mật kế Z (truyện ký, 1988); truy tìm ổ quỷ (truyện, 1988); Tham vọng mù quáng (tiểu thuyết, 1988); Viên chuẩn tướng (truyện ký, 1989); Chân dung chiến sĩ (truyện, 1990); Mặt trận không tiếng súng (truyện, 1990); Hành trình đồng đô la (tiểu thuyết, 1991); Lót ổ (truyện, 1991); Vòng trầm luân oan nghiệt (tiểu thuyết, 1992); Tôi đi tìm cái chết của tôi (tiểu thuyết, 1992); Khát vọng con người (tiểu thuyết, 1992); Ông tường tình báo và hai bà vợ (tiểu thuyết, 1994)…

Tặng giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng (1994); Giải thưởng văn học Bộ Nội vụ (1995); Giải báo chí (Hội Nhà báo) với tác phẩm Dọc ngang trong lòng địch (1981) và Kẻ cuồng vọng mang mật kế Z (1985).

Zarathustra Đã Nói Như Thế

Zarathustra Đã Nói Như Thế

Tác giả: Friedrich Nietzsche.

Dịch giả: Trần Xuân Kiêm.

Nhà xuất bản: Nxb văn học

Friedrich Wilhelm Nietzsche chào đời ngày 15/10/1844 tại Röcken bei Lützen, một tỉnh nhỏ nằm về phía tây nam của thành phố Leipzig, nước Đức. Bởi vì ngày sinh này trùng với sinh nhật thứ 49 của Vua Friedrich Whilhelm IV của nước Phổ (Prussia) nên cậu bé này được đặt tên như vậy. Cha của cậu bé là ông Karl Ludwig Nietzsche (1813-1849) đã được Vua Phổ bổ nhiệm làm mục sư của tỉnh Röcken. Ông nội của cậu bé là một học giả Tin Lành (a Protestant scholar) mà trong một cuốn sách xuất bản năm 1796, ông cụ đã xác nhận “đạo Thiên Chúa sẽ mãi mãi trường tồn”.
“Zarathustra đã nói như thế” (Thus Spoke Zarathustra) là một trong các tác phẩm nổi tiếng nhất của Friedrich Nietzsche. Đây là bản tuyên ngôn về cách chiến thắng chính mình. 30 năm sau lần xuất bản đầu tiên, chính quyền Đức đã cho in 150,000 ấn bản, cùng với các cuốn Thánh Kinh, để phát không cho binh lính trẻ trong Thế Chiến Thứ Nhất.

“Zarathustra đã nói như thế” là tác phẩm chống đối quan điểm của thế giới Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo, với lời văn vừa mang vẻ thơ phú, vừa mang tính chất tiên tri, giống như lời văn của các kinh Cựu Ước và Tân Ước.

Tác phẩm này dùng tên của một nhân vật lãnh đạo tôn giáo bí ẩn, gốc người Ba Tư, là người đã sống trước Chúa Jesus hơn 500 năm. Nietzsche đã dùng tên Zarathustra này để tăng thêm phần huyền bí. Tác phẩm này đã tạo ra khá nhiều tranh luận. Có người bảo vệ tác phẩm, cho rằng đây chỉ là một cuốn sách thuộc loại nghệ thuật (a work of art), không nên đọc để tìm hiểu một chủ thuyết (doctrine), trong khi các kẻ khác, gồm cả các đảng viên Quốc Xã Nazis, đã đòi hỏi mọi người phải đọc tác phẩm này vì tính cách giáo dục triết lý, và các kẻ Tân Quốc Xã đã dùng câu nói của Nietzsche sau đây: “Những thứ gì không giết nổi chúng ta, sẽ chỉ làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn” (That does not kill us can only make us stronger).

Khi viết ra tác phẩm kể trên, một trong các ý định căn bản của Friedrich Nietzsche là muốn chứng minh rằng các giá trị truyền thống mà đại diện là đạo Thiên Chúa, đã mất đi sức mạnh trong các đời sống cá nhân mà chỉ trình bày một thứ “luân lý nô lệ” (a slave morality), thứ luân lý tạo bởi các cá nhân yếu hèn và bực tức, những người này khuyến khích các hành vi như dịu dàng, tử tế, bởi vì thứ hành vi này phục vụ các quyền lợi của họ.

Friedrich Nietzsche đề cập tới các giá trị mới có thể tạo ra được, để thay thế các giá trị cổ truyền và các thảo luận của Nietzsche đã dẫn tới quan niệm về một thứ “siêu nhân” (overman or superman = Übermensch). Theo Nietzsche, khối đông hay tập thể làm theo tập quán, trong khi siêu nhân thì độc lập, vững tâm và rất cá nhân. Siêu nhân cảm xúc sâu xa nhưng các đam mê được kiểm soát một cách hữu lý. Trái với tôn giáo hứa hẹn các phần thưởng ở thế giới kế tới, siêu nhân xác nhận đời sống gồm cả đau đớn. Siêu nhân theo Nietzsche, là người sáng tạo ra các giá trị, là chủ của luân lý, là phản ảnh của sức mạnh và tính độc lập.

Friedrich Nietzsche cho rằng tất cả các hành vi của con người bị thúc động (motivated) do lòng ham muốn quyền lực (the will to power), đây không phải là quyền lực đối với các kẻ khác mà là đối với chính mình, đây là điều cần thiết để sáng tạo. Nietzsche đã nói tới nhiều nhân vật được coi như kiểu mẫu của “siêu nhân”, trong đó có Chúa Jesus, triết gia Hy Lạp Socrates, nhà cai trị La Mã Julius Caesar, nhà khoa học xứ Florence Leonardo da Vinci, họa sĩ người Ý Michelangelo, nhà viết kịch người Anh William Shakespeare, nhà triết học người Đức Johannn Wolfgang von Goethe và Hoàng Đế Pháp Napoléon I.

Friedrich Nietzsche đã có thể sáng tác phong phú ra nhiều tác phẩm sâu xa và xuất sắc trong một số năm trường trong khi thân thể ở trong tình trạng bệnh hoạn, đau đớn, đây là lời xác định về các khả năng tinh thần đặc biệt và một ý chí mãnh liệt của tác giả.

Tư tưởng của Friedrich Nietzsche đã gây nên ảnh hưởng sâu đậm trong thế kỷ 20, nhất là tại lục địa châu Âu. Tư tưởng này đã hấp dẫn các nghệ sĩ tiền phong (avant-garde artists) là những người tự coi mình ở bên bờ của thứ xã hội thời trang, bởi vì Nietzsche đã kêu gọi mọi người phải bắt đầu bằng thứ mới, lành mạnh và sáng tạo…

Trong thập niên 1930, tư tưởng của Friedrich Nietzsche đã được các đảng Quốc Xã Đức và Phát Xít Ý xử dụng, họ đã dùng nhiều đoạn văn trích dẫn trong các tác phẩm của Nietzsche để biện minh cho chiến tranh, xâm lược và thống trị.

Friedrich Nietzsche cũng đặc biệt gây ảnh hưởng tới giới triết học Pháp trong các thập niên 1960 – 1980 do lời tuyên bố “Thượng Đế đã chết” (God is dead), do thuyết bi quan, do nhấn mạnh vào quyền lực (power) như là một thứ thúc động thực sự để đối đầu với thẩm quyền đã được thiết lập và để phát động các chỉ trích xã hội.

Phạm Văn Tuấn

cong nghe cam/cad

gom 8 chuong

chuong1: tong quan ve cam/cad

chuong 2: co so cua mo hinh khoa hoc

chuong 3 mo hinh hoa cac thuc the hinh hoc

chuong 4 co so cua cad

chuong 5 phan mem va phan cung trong cad

chuong 6 phan mem pro/engineer

chuong7 ky thuat dieu khien so va cong nghe gia cong dieu khien so cnc

chuong8

Tailieu4u.com - chia sẻ ebook- download free © 2017 Frontier Theme