Lời tựa
“Ai trong đời cũng khóc , nhưng cô gái Vũ Phúc lại nén lòng và không khóc trước những nghịch cảnh đắng cay của cuộc đời , cô khóc khi tìm được hạnh fúc và người làm cô khóc còn sung xướng hơn cô nhiều , bởi đó là tình yêu .”
Làm sao để tha thứ
John Monbourquette (Jean Monbourquette)
Tha thứ để chữa lành – Chữa lành để tha thứ
Cha Jean Monbourquette OMI là giáo sư Mục Vụ ở Đại Học Saint-Paul ở Ottawa – Canada, Điều phối và huấn luyện viên Trung tâm Gia Đình và Cộng đồng. Cử nhân Thần học, Cao học Triết, Cao học về Giáo dục ĐH Ottawa, Cao học Tâm lý lâm sàng ĐH San Francisco, Tiến sĩ Tâm lý ĐH Los Angeles. Tác giả cuốn sách bán chạy nhất Aimer, Perdre et Grandir.
Tủ sách
CHO MỘT TƯƠNG LAI TỐT ĐẸP HƠN
2001
“…
Làm sao tha thứ ? Đó là một vấn nạn tôi quan tâm từ 10 năm nay. Chính tôi đã vấp phải sự khó tha thứ và tôi cũng đã gặp cùng vấn đề đó nơi các đọc giả, bệnh nhân và những người tôi tháp tùng thiêng liêng.
Tác phẩm nầy là kết quả của một cuộc nghiên cứu và suy tư lâu dài được nuôi dưỡng đồng thời bởi những kinh nghiệm lâm sàng bên cạnh nhiều người và những kiến thức về tâm lý và thiêng liêng của tôi. Ý hướng của tôi khi viết tác phẩm nầy thật rõ ràng : cung cấp một chỉ dẫn thực hành để học tha thứ theo tiến trình 12 giai đoạn.
…”
Lời Tựa Làm sao tha thứ ?
Đó là một vấn nạn tôi quan tâm từ 10 năm nay. Chính tôi đã vấp phải sự khó tha thứ và tôi cũng đã gặp cùng vấn đề đó nơi các đọc giả, bệnh nhân và những người tôi tháp tùng thiêng liêng.
Tác phẩm nầy là kết quả của một cuộc nghiên cứu và suy tư lâu dài được nuôi dưỡng đồng thời bởi những kinh nghiệm lâm sàng bên cạnh nhiều người và những kiến thức về tâm lý và thiêng liêng của tôi. Ý hướng của tôi khi viết tác phẩm nầy thật rõ ràng : cung cấp một chỉ dẫn thực hành để học tha thứ theo tiến trình 12 giai đoạn. Nhiều người hỏi tôi : “Nhưng tại sao lại 12 giai đoạn ? Nhiều quá !” Đúng vậy, tôi công nhận như thế. Bởi vì các bạn nghi ngờ, tôi không đi vào ngay. Đó là kinh nghiệm tôi đã khám phá được rằng một số người dù rất muốn tha thứ lại cảm thấy bị ách tắc vào những thời điểm nhất định trong tiến trình của họ.
Phải đọc tác phẩm nầy thế nào ? Trước hết, điều quan trọng là đọc giả phải chú ý đến tiến trình cá nhân và cách thức tha thứ của mình. Có những người sẽ đọc lướt qua cả cuốn sách ngay một mạch. Một số khác lại thích nhặt lấy đó đây những chỉ dẫn theo nhu cầu mỗi lúc của họ. Các chương nầy có vẻ đã được đọc qua rồi, trong khi những chương khác có vẻ mới và chưa hề đọc. Nếu đọc giả nhận thấy một chương nào thích hợp, thì hãy để thời giờ học hỏi cặn kẻ hơn và đem ra thực tập. Đọc giả sẽ có thể biết rõ hơn các trạng thái tâm hồn của mình, xác định các ách tắc, tìm được phương thế giải quyết chúng và đi từ thành công nầy đến thành công khác. Như thế, tôi có thể nói với mỗi người : “Chúc may mắn suốt cuộc hành trình nội tâm nhằm khám phá một sự tha thứ chữa lành và giúp lớn lên”.
Cuốn LÀM SAO THA THỨ nầy nhắm đến ai ? Nó cố ý được viết cho số lớn đọc giả có thể, dù họ là tín hữu hay không. Bạn sẽ nhận thấy gợi hứng kitô giáo trình bày trong đó rất rõ. Có thể một số người không sử dụng từ ngữ “Thiên Chúa” khi mô tả khía cạnh thiêng liêng của sự tha thứ. Họ cứ thoải mái dùng từ ngữ nào cảm thấy thích hợp nhất tùy theo định hướng thiêng liêng của mình, chẳng hạn “Đấng Siêu Việt”, “Siêu Ngã”, “Suối Nguồn hay Năng Lực Thần Linh”, “Tình Yêu Vô Điều Kiện” v.v…
Dám Thất Bại – No.1 Best-seller New Straits Times
Tác giả: Bill P. S. Lim
Dịch giả: Trần Hạo Nhiên
Nhà xuất bản: Nxb Trẻ
Chúng ta thường nghe cũng như đọc nhiều về gương thành công, về những vĩ nhân. Chúng ta thường không thích nói về thất bại, như thể chúng ta đã được lập trình để tránh thất bại… Lẽ nào thất bại chẳng có chút giá trị nào sao?
Quyển sách này đề cập đến một mặt khác của thành công. Đó là một phương diện chúng ta cần thật sự học hỏi. Đối với những ai đã từng cố gắng và đã từng thất bại, quyển sách này đứng về phía bạn.
Dám thất bại, bạn sẽ thành công sau này…
So với những người thất bại, những người thành công thật sự đã thất bại nhiều lần hơn, chỉ đơn giản là vì họ đã cố gắng nhiều lần hơn!
Mục lục:
Chương 1: Thời thơ ấu
Chương 2: Những ngày ở trung học
Chương 3: Và công ty của chúng tôi được sáng lập
Chương 4: Trở lại làm công cho người khác
Chương 5:Thất bại
Chương 6: Giá trị của thất bại
Chương 7: Nỗi sợ hãi của thất bại
Chương 8: Thất bại trong các quan hệ tình cảm
Chương 9: Các hậu quả của sự thất bại trong xã hội chúng ta
Chương 10: Nỗi sợ hãi không kiếm được việc làm
Chương 11: Nỗi sợ mình quá già để thành công
Chương 12: Sợ không đạt kết quả
Chương 13: Các đau đớn, rắc rối, khó khăn và đau khổ
Chương 14: Làm gì để đối mặt với thất bại?
Chương 15: Khi tất cả đều thất bại
Chương 16: Bạn sẽ làm gì nếu bạn không thể thất bại?
Lời đề tặng người bị thất bại
Để đáp ứng yêu cầu triển khai chương trình SGK THCS mới từ năm 2002 – 2003, chúng tôi xin giới thiệu cuốn “Thiết kế bài giảng toán trung học cơ sở 6 – Tập 2” theo chuẩn kiến thức, thái độ và kĩ năng được quy định trong chương trình.
Sách “Thiết kế bài giảng toán trung học cơ sở 6 – Tập 2” đã xác định cụ thể mục tiêu cần đạt ở từng bài học nhằm giúp giáo viên có cơ sở định hướng chính xác các nhiệm vụ, các việc làm của thầy và trò.
Về phương pháp dạy học, nội dung sách theo hướng dạy học trên cơ sở hoạt động học tập của học sinh, vì thế đã cố gắng định danh cụ thể các hoạt động dạy và học của thầy và trò trong đó thầy luôn giữ vai trò tổ chức, chỉ đạo, trò là chủ thể tích cực, chủ động nắm bắt tri thức.
…
Mời các bạn đón đọc.
Chiến Lược Đại Dương Xanh
Tác Giả: w. Chan Kim – Renée Mauborgne
Nhà Xuất Bản: NXB Tri Thức
Chiến Lược Đại Dương Xanh – Làm Thế Nào Để Tạo Khoảng Trống Thị Trường Và Vô Hiệu Hoá Cạnh Tranh? – Ấn Phẩm Đặc Biệt Sách Chiến Lược Hay Nhất Amazon.com + DVD Hội Thảo Chiến Lược Đại Dương Xanh Tại Hà Nội và Sài Gòn:
Đừng cạnh tranh đối đầu mà hãy vô hiệu hoá ảnh hưởng của các đối thủ.
Trong một thời gian dài, các công ty đã tham gia vào những cuộc cạnh tranh đối đầu trực diện nhằm đạt được sự tăng trưởng không ngừng về lợi nhuận. Họ ra sức tìm kiếm những lợi thế so sánh, giành giật từng phân đoạn thị trường và không ngừng đổi mới hoàn thiện mình trong cuộc chiến cá biệt hoá sản phẩm.
Thế nhưng, trong những ngành có nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường như hiện nay, cạnh tranh đối đầu không mang lại lợi ích gì ngoài một “đại dương đỏ” với những đối thủ cạnh tranh nhau khốc liệt chỉ để dành được một nguồn lợi nhuận đang ngày càng hạn hẹp. Cuốn sách này sẽ khiến bạn phải tự hỏi lại mình về mọi thứ mà bạn biết về điều kiện để có được những thành công chiến lược , bởi vì, trong đó, W.Chan Kim và Renée Mauborgne đã chỉ ra rằng, trong khi hầu hết các công ty đều cạnh tranh đối đầu ngày càng không thể tạo ra sự tăng trưởng có lợi nhuận trong tương lai.
Dựa trên nghiên cứu 150 bước thay đổi chiến lược trong 30 ngành suốt hơn 100 năm qua, Kim và Mauborge đã khẳng định rằng: những công ty dẫn đầu trong tương lai sẽ thành công, không phải nhờ vào việc cạnh tranh với các đối thủ trong cùng thị trường, mà chính là nhờ vào việc tạo ra những “đại dương xanh”,với những phân đoạn thị trường chưa được khám phá, đầy những cơ hội tăng trưởng và phát triển. Những thay đổi mang tính chiến lược đó được gọi là “cải tiến giá trị” – có nghĩa là tạo ra bước nhảy vọt về giá trị cho cả doanh nghiệp lẫn khách hàng, bỏ xa các đối thủ cạnh tranh và mở ra những nhu cầu mới.
Cuốn sách “Chiến lược đại dương” xanh cung cấp cách thức tiếp cận xây dựng chiến lược một cách hệ thống nhằm vô hiêu hoá cạnh tranh.Khác với những suy nghĩ truyến thống về chiến lược, cuốn sách với những tư tưởng đột phá này đã mở ra một co đường mới đi tới chiến thắng trong tương lai.
“Khi đọc cuốn sách này, bạn sẽ không còn thấy việc cạnh tranh khó khăn như trước nữa. Kim và Maulborgne đã xây dựng hết sức thuyết phục một mô hình áp dụng các xhiến lược theo phương pháp sáng tạo, thay vì phương pháp giành giật thị trường như các lý truyết trước đây. Chỉ riêng việc họ nhấn mạnh vào hoạt động cải tiến giá trị và cam kết vì lợi ích của nhà đầu tư cũng đã đủ để khiến Chiến Lược Đại Dương Xanh trở thành cuốn sách mà mọi giám đốc điều hành cũng như mọi sinh viên ngành Quản trị kinh doanh cần phải đọc.” (Carlos Ghosn, Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám Đốc Diều Hành Công ty Nissan Motor).
“Thiết kế bài giảng vật lí 11 – Tập 2” được viết theo chương trình SGK mới ban hành năm 2006 – 2007. Sách giới thiệu một cách thiết kế bài giảng Vật lí 11 theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy – học, nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh.
Về nội dung: Sách bám sát nội dung SGK Vật lí 11, theo chương trình mới. Ở mỗi tiết đều chỉ rõ mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ, các công việc cần chuẩn bị của giáo viên và học sinh, các phương tiện trợ giảng cần thiết, dễ làm, nhằm đảm bảo chất lượng từng bài, từng tiết trên lớp.
Về phương pháp: Sách đã cố gắng vận dụng phương pháp dạy học mới để truyền tải từng nội dung cụ thể của bài học. Ở mỗi tiết học, tác giả còn chỉ rõ từng hoạt động cụ thể của GV và HS trong quá trình dạy – học, coi đây là hai hoạt động cùng nhau, trong đó cả HS và GV đều là chủ thể của hoạt động.
Mời các bạn đón đọc.
Nhà lãnh đạo trong bạn
Tác giả:Stuart R.Levine
Năm xuất bản:2008
Đơn vị xuất bản:Trẻ
Số trang:280
Giá sách:48.000 VND
Ở thế kỷ XXI chúng ta đã được chứng kiến sự đột phá của ngành công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và sự lên ngôi thống lĩnh của kỷ nguyên truyền thông. Những đột phá, thay đổi của công nghệ có tác động như thế nào đến con người và mối quan hệ giữa con người với con người?
Nhà lãnh đạo trong bạn, bằng những phân tích và dẫn giải thực tế những kinh nghiệm, chia sẻ của những nhà lãnh đạo thành công nhất thế giới sẽ giúp bạn hiểu được sự ảnh hưởng từ sự tác động này. Cuốn sách đề cao vai trò của mỗi cá nhân trong một tổ chức cũng như vấn đề giao tiếp giữa lãnh đạo với nhân viên. Trong đó, người lãnh đạo không đơn thuần là người đưa ra những mệnh lệnh và trông đợi nhân viên làm theo một cách máy móc… họ phải có khả năng giao tiếp, tạo động lực làm việc, và nhạy bén trước những thay đổi liên tục như hiện nay… Và còn rất nhiều tố chất cần thiết để trở thành nhà lãnh đạo mà cuốn sách đề cập đến, mời các bạn cùng đọc và khám phá khả năng lãnh đạo ở chính mình.
TỪ TỐT ĐẾN VĨ ĐẠI
Tác giả: JIM COLLINS
Dịch giả: Trần Thị Ngân Tuyến
Nhà xuất bản: NXB Trẻ; Tổ hợp giáo dục Pace
Jim Collins đã đưa ra 7 nguyên tắc xây dựng một công ty vĩ đại:
1. Hãy cố gắng để trở thành một vị lãnh đạo cấp độ 5
Người lãnh đạo ở cấp độ này bắt tay vào công cuộc kinh doanh không phải bằng thành tích cá nhân mà bằng việc đạt được mục tiêu chung cho công ty – tạo dựng một công ty vĩ đại.
2. Hành động theo nguyên tắc: đầu tiên là “ai” …sau đó là “cái gì”
Nghĩa là bất cứ một cuộc cải tổ nào cũng nên được bắt đầu bằng việc tuyển chọn nhân sự để tìm ra đúng người đúng việc và loại bỏ những cá nhân không cần thiết.
3. Hãy biết nhìn thẳng vào sự thật trần trụi, nhưng đừng đánh mất niềm tin vào sự thành công
4. Hãy luôn duy trì khái niệm con nhím
Những người thuộc nhóm “Nhím” nhìn thế giới xung quanh theo cách đơn giản, theo một khái niệm đơn giản và thống nhất, xuyên suốt mọi hoạt động của mình.
5. Tạo dựng môi trường văn hóa công ty với kỷ luật cao
Quan trọng là phải biết tuyển chọn đúng người đúng việc với trách nhiệm và kỷ luật cao. Bạn không cần phải mất thì giờ kiểm soát những người như vậy. Điều này giúp bạn tiết kiệm thời gian và công sức để làm những công việc quan trọng hơn.
6. Hãy xem các công nghệ mới như là bàn đạp để phát triển kinh doanh chứ không nên trông chờ vào nó
Các công ty vĩ đại thường là những đơn vị tiên phong trong việc áp dụng các công nghệ mới và tiên tiến. Tuy nhiên, họ biết cách chọn lựa công nghệ phù hợp và không quá phụ thuộc hay kỳ vọng vào những công nghệ mới đó.
7. Hãy chia sẻ với các cộng sự của mình kể cả những kết quả khiêm tốn nhất
Quá trình chuyển đổi từ “tốt” đến “vĩ đại” là một con đường dài và cam go. Nó giống với việc bạn đang cầm lái một con tàu nặng nề. Ban đầu, con tàu ì ạch chuyển động, nhưng rồi cũng đến lúc con tàu rẽ sóng đi băng băng. Đó là khi tất cả mọi cố gắng và năng lượng bạn bỏ ra sẽ mang lại kết quả tốt đẹp. Và hãy để cho cộng sự của bạn nhìn thấy những nỗ lực nhỏ ấy đã đơm hoa kết trái thế nào.
Giao đất giao rừng là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã đề ra trên hai mươi năm nay. Từ khi có chương trình quốc gia về bảo vệ rừng và phủ xanh đồi núi trọc thì việc giao đất lâm nghiệp càng có ý nghĩa lớn lao và bức thiết hơn.
Để góp phần thực hiện chủ trương trên, dựa trên những kết quả đã làm thí điểm, cuốn sách Giao đất lâm nghiệp – Kinh tế hộ gia đình ở miền núi do Vũ Văn Mễ biên soạn đã được Nhà xuất bản Nông nghiệp ấn hành. Nội dung sách trình bày phương pháp giao đất lâm nghiệp đã được cải tiến. Tuy còn phải tiếp tục bổ sung, hoàn thiện nhưng là một phương pháp dựa trên những nguyên tắc phù hợp với luật định, có tính khả thi cao, nhiều địa phương đã áp dụng thành công.
Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
54 dân tộc Việt Nam
(xem danh sách 54 dân tộc)
Lời nói đầu:
Việt Nam – Tổ quốc của nhiều dân tộc. Các dân tộc cùng là con cháu của Lạc Long Quân – Âu Cơ, nở ra từ trăm trứng, nửa theo mẹ lên núi, nửa theo cha xuống biển, cùng mở mang gây dựng non sông “Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền”, với rừng núi trùng điệp, đồng bằng sải cánh cò bay và biển Đông bốn mùa sóng vỗ; bờ cõi liền một dãi từ chỏm Lũng Cú (Bắc) đến xóm Rạch Tàu (Nam), từ đỉnh Trường Sơn (Tây) đến quần đảo Trường Sa (Đông).
Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên và đấu tranh xã hội, suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng phát triển đất nước.
Lịch sử chinh phục thiên nhiên là bài ca hùng tráng, thể hiện sự sáng tạo và sức sống mảnh liệt, vượt lên mọi trở ngại thích ứng với điều kiện tự nhiên để sản xuất, tồn tại và phát triển của từng dân tộc. Với điều kiện địa lý tự nhiên (địa mạo, đất đai, khí hậu…) khác nhau, các dân tộc đã tìm ra phương thức ứng xử thiên nhiên khác nhau.
Ở đồng bằng và trung du, các dân tộc làm ruộng, cấy lúa nước, dựng nên nền văn hóa xóm làng với trung tâm là đình làng, giếng nước cây đa, bao bọc bởi lũy tre xanh gai góc đầy sức sống dẻo dai. Đồng bằng, nghề nông, xóm làng là nguồn cảm hứng, là “bột” của những tấm áo mớ ba mớ bảy, của dải yếm đào cùng nón quai thao, của làn điệu dân ca quan họ khoan thai mượt mà và của khúc dân ca Nam Bộ ngân dài chan chứa sự mênh mông của đồng bằng sông Cửu Long. ở vùng thấp của miền núi, các dân tộc trồng lúa nước kết hợp sản xuất trên khô để trồng lúa nương, trồng ngô, bước đầu trồng các cây công nghiệp lâu năm (cây hồi, cây quế…), thay thế cho rừng tự nhiên. Họ sống trên những nếp nhà sàn, mặc quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn mô phỏng hoa rừng, thú rừng. Đồng bào có tục uống rượu cần thể hiện tình cảm cộng đồng sâu sắc. Người uống ngây ngất bởi hơi men và đắm say bởi tình người.
Ở vùng cao Việt Bắc, Tây Nguyên, đồng bào chọn phương thức phát rừng làm rẫy – là cách ứng xử thiên nhiên ở thời đại tiền công nghiệp. Vùng cao, khí hậu á nhiệt đới, việc trồng trọt chủ yếu thực hiện trong mùa hè thu. Để tranh thủ thời tiết và quay vòng đất, từ ngàn xưa người vùng cao đã phát triển xen canh gối vụ, vừa tăng thu nhập vừa bảo vệ đất khỏi bị xói mòn bởi những cơ mưa rào mùa hạ. Bàn tay khéo léo và tâm hồn thẩm mỹ của các cô gái đã tạo ra những bộ trang phục: váy, áo với những hoa văn sặc sỡ hài hòa về màu sắc, đa dạng về mô típ, mềm mại về kiểu dáng, thuận cho lao động trên nương, tiện cho việc đi lại trên đường đèo dốc. Núi rừng hoang sơ cùng với phương thức canh tác lạc hậu là mảnh đất phát sinh và phát triển các lễ nghi đầy tính thần bí, huyền ảo. Hầu hết các cư dân Tây Nguyên đều có tục đâm trâu làm lễ cúng Giàng (trời), cầu xin sự phù hộ của Giàng cho người sức khỏe, cho gia súc và cho mùa màng bội thu. Đây cũng là vùng tiềm ẩn nhiều truyện thần thoại, nhiều sử thi anh hùng mà giá trị của nó có thể so sánh được các truyện thần thoại của Trung Quốc, Âởn Độ nhưng chưa được sưu tầm và nghiên cứu đầy đủ. Đồng bào là chủ nhân sáng tạo ra những bộ đàn đá, đàn T’rưng, đàn Krông pút… những bộ cồng chiêng và những điệu múa tập thể dân dã, khỏe khoắn kết bó cộng đồng. Dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam, các dân tộc sống bằng nghề cài lưới. Cứ sáng sáng đoàn thuyền của ngư dân giăng buồm ra khơi, chiều lại quay về lộng. Cuộc sống ở đây cũng nhộn nhịp, khẩn trương như nông dân trên đồng ruộng ngày mùa.
Ở khắp nơi, con người hòa nhập vào thiên nhiên, thiên nhiên cũng biết chiều lòng người, không phụ công sức người. Sống trên mảnh đất Đông Dương – nơi cửa ngõ nối Đông Nam Aá lục địa với Đông Nam Aá hải đảo, Việt Nam là nơi giao lưu của các nền văn hóa trong khu vực. ở đây có đủ 3 ngữ hệ lớn trong khu vực Đông Nam Aá, ngữ hệ Nam đảo và ngữ hệ Hán – Tạng. Tiếng nói của các dân tộc Việt Nam thuộc 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau.
Nhóm Việt – Mường có 4 dân tộc là: Chứt, Kinh, Mường, Thổ.
Nhóm Tày – Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.
Nhóm Môn-Khmer có 21 dân tộc là: Ba na, Brâu, Bru-Vân kiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Cơ-tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ mú, Mạ, Mảng, M’Nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng.
Nhóm Mông – Dao có 3 dân tộc là: Dao, Mông, Pà thẻn.
Nhóm Kađai có 4 dân tộc là: Cờ lao, La chí, La ha, Pu péo.
Nhóm Nam đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-rai, Ra-glai.
Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán dìu.
Nhóm Tạng có 6 dân tộc là: Cống, Hà Nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá, Si la.
Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau, song do các dân tộc sống rất xen kẽ với nhau nên một dân tộc thường biết tiếng các dân tộc có quan hệ hàng ngày, và dù sống xen kẽ với nhau, giao lưu văn hóa với nhau, nhưng các dân tộc vẫn lưu giữ được bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình. ở đây cái đa dạng của văn hóa các dân tộc được thống nhất trong qui luật chung – qui luật phát triển đi lên của đất nước, như cái riêng thống nhất trong cái chung của cặp phạm trù triết học.
Tổ Chức Sản Xuất Một Số Loại Nấm Ăn Ở Trang Trại Và Gia Đình (Nấm Mỡ, Nấm Rơm, Nấm Sò) cung cấp cho bạn những kỹ thuật để tổ chức và sản xuất một số loại nấm ăn ở trang trại hay gia đình.
Mục lục gồm có 3 phần:
Phần 1: Một số vấn đề chung về nấm Phần 2: Tổ chức sản xuất một số loại nấm ăn Phần 3: Đôi điều cần chú ý về thị trường tiêu thụ nấm ăn và công tác sản xuất giống nấm
* Miêu tả chỉ mang tính tham khảo.
Mộng đời bất tuyệt
Tác giả: Nguyễn Tường Bách
Thể loại: Tùy bút
Nhà xuất bản: Văn Nghệ, TP. HCM
Năm xuất bản: 2006
Đầu tháng 3.2006, NXB Văn nghệ (TP.HCM) in xong cuốn Mộng đời bất tuyệt của ông Nguyễn Tường Bách – một trong các tác giả người Việt ở nước ngoài có nhiều tác phẩm xuất bản tại Việt Nam như Mùi hương trầm, Lưới trời ai dệt, Đêm qua sân trước một cành mai.
Ông năm nay 58 tuổi, sống tại Đức, có bài đăng trên Báo Thanh Niên trước đây và đã dịch: Đạo của vật lý (Frijof Capra), Đối diện cuộc đời (Krishnamurti), Sư tử tuyết bờm xanh (Surya Das), Thiền trong nghệ thuật bắn cung (Eugen Herrigel), Con đường mây trắng (Anagarika Govinda) được đông đảo bạn đọc trong nước đón nhận. Riêng Mộng đời bất tuyệt gồm 18 tùy bút viết về chuyện: đi và nhớ của ông.
Đến đảo Mallorca miền Địa Trung Hải, giữa tiếng ve ngân bất ngờ và mùi thông hăng hắc, ông nhớ những trưa hè với phượng hồng ở Huế. Đến Trung Quốc, Miến Điện thăm các nhà cổ “nhớ lại nhà mình ở Bao Vinh (một bến cảng của kinh thành xưa) có một cái gì quen thuộc không thể định nghĩa”. Đến Thái Lan, Singapore, đi trên các vỉa hè lác đác người mua bán, nhớ quán cóc Sài Gòn với “cảnh ngộ muôn màu và những số phận không tên”. Đến Tây Ban Nha, nhớ điệu Flamenco “không hề là vũ điệu đặc trưng và vui nhộn của Tây Ban Nha như nhiều người lầm tưởng” mà xuất phát từ tiếng than thở về một quá khứ vàng son của người Berber mất đất, đi lang thang, cất lời ca giữa đất trời theo tiếng vỗ tay và nhịp chân trên sàn gỗ. Đến Tây Tạng chiêm ngưỡng tượng ngài Liên Hoa Sanh (sinh ra từ hoa sen), nhớ hồ Tịnh Tâm với những con người “tự chuyển hóa mình”. Đi nhiều, nhiều nữa, đến Pháp, Mỹ, Hy Lạp, Ấn Độ chẳng hạn – để một hôm, dừng lại, hướng về sa mạc Sahara nơi có “những lớp đá mỏng như vỏ hến (kết tinh từ khoáng sản trong nước ngầm) trồi lên và xếp thành từng lọn xinh xắn như những cánh hoa” mà người châu Phi nói tiếng Pháp gọi là Rose de sable (hoa hồng trên cát) và nhớ tới “những yếu tố trầm lắng trong bóng tối nay được phơi mình thành sắc thể”. Con người cũng vậy, cũng mang “những yếu tố trầm lắng” trong mỗi một tâm hồn, chỉ khác ở chỗ chúng không hữu hình như Rose de sable. Mà, ngược lại, vô hình vô sắc, lặng lẽ, thanh tịnh và tỏa sáng như tình thương và lòng tha thứ, để “sẵn sàng quên những thương tổn” và để “yêu thương cuộc đời như nhà văn Hermann Hesse, khi tự so sánh mình với một cành cây, đã viết: Tấm lòng ta mềm mại, tinh khôi – đã chết vì cuộc đời thô bạo. Nhưng tính cách ta vẫn không đổi. Ta vẫn vui lòng, ta vẫn tha thứ – vẫn cho đời những chiếc lá xanh tươi – vẫn cho nứt hàng trăm chồi non mới. Dù bị đau đớn quằn quại – ta vẫn yêu thương trần gian điên dại này. Hai câu cuối cùng đã được truyền tụng bằng nhiều thứ tiếng trên thế giới vì nó chính là chất người đích thực”.
Giao Hưởng
Cuốn sách Etylen và ứng dụng trong trồng trọt nhằm cung cấp cho bạn đọc những thông tin cần thiết về Etylen và các ứng dụng có hiệu quả của nó trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nước ta. Đặc biệt, sách sẽ hướng dẫn sử dụng các chất kháng Etylen trong sản xuất và bảo quản sản phẩm rau hoa quả( ví dụ: làm chậm chín quả, làm chậm sự già hóa của cây, của hoa…) giúp bạn có thể chủ động bảo quản rau, hoa quả.
Cuốn sách này là một tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà nghiên cứu sinh lý thực vật, nông học, bảo quản, chế biến nông sản và những người sản xuất đang quan tâm đến việc điều khiển cây trồng theo ý muốn.
Đã từ lâu, các KTV đồ họa , họa sĩ, các nhà xử lý ảnh đều xem Photoshop CS như một công cụ không thể thiếu được trong thiết kế xử lý ảnh. Trong tay các nhà thiết kế mỹ thuật cây gậy thần Photoshop CS đã giúp họ không chỉ tái hiện thế giới theo quan điểm riêng, mà còn biến giấc mơ thành hiện thực.
Ebook này sẽ hướng dẫn người đọc các kỹ năng cơ bản để sử dụng Photoshop.
1. Chất điều hòa sinh trưởng là gì?
2. Hãy nói vai trò của các chất điều hòa sinh trưởng cho cây trồng?
3. Các chất điều hòa sinh trưởng bổ sung cho cây lấy từ đâu?
4. Có bao nhiêu cách cung cấp chất điều hòa sinh trưởng cho cây trồng?
5. Tại sao phải bổ sung chất điều hòa sinh trưởng cho cây trồng?
6. Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng lên năng suất và chất lượng nông sản như thế nào?
7. Các vi lượng cần cung cấp cho cây là những chất gì? Những chất đó cây lấy ở đâu?
8. Đất trồng Việt Nam có thiếu vi lượng không?
9. Vi lượng ảnh hưởng lên cây trồng như thế nào
10. Có bao nhiêu cách bón vi lượng cho cây? Các phương pháp bón trên thế giới?
11. Năng suất và chất lượng nông sản có thay đổi gì khi bón vi lượng cho cây?
12. Ý nghĩa của các nguyên tố vi lượng trong thực tiễn nông nghiệp là gì?
13. Quá trình phân bố và di chuyển vi lượng trong cây như thế nào?
14. Hãy phân biệt phân bón vào gốc và phân bón lên lá cho cây?
15. Lá cây hấp thụ phân bón qua lá như thế nào?
16. Các yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng gì tới việc bón phân qua lá?
17. Nguyên tắc sản xuất phân bón qua lá như thế nào?
18. Các chế phẩm tăng năng suất cây trồng có phải là phân bón qua lá không?
19. Để bón cho từng cây trồng phải có từng loại phân bón qua lá khác nhau có đúng không?
.. gồm 60 câu hỏi và trả lời.
MỘT SỐ TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG LỊCH SỨ DÂN TỘC
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
TÁC GIẢ: PHAN HUY LÊ – BÙI ĐĂNG DŨNG – PHAN ĐẠI DOÃN – PHẠM THỊ TÂM – TRẦN BÁ CHÍ.
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Đánh giặc giữ nước là một nội dung chủ yếu của lịch sử dân tộc Việt Nam. Thế kỷ nào, thời đại nào quân và dân ta cũng đều phải chống giặc ngoại xâm. Những chiến công hiển hách từ Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ đến chiến dịch Hồ Chí Minh sẽ để lại cho các thế hệ mai sau những bài học, những tấm gương ngời sáng về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, về trí tuệ Việt Nam.
Cuốn sách MỘT SỐ TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TRONG LỊCH SỨ DÂN TỘC của các tác giả: Phan Huy Lê – Bùi Đăng Dũng – Phan Đại Doãn – Phạm Thị Tâm – Trần Bá Chí, được tái bản theo yêu cầu của một số đơn vị, cơ quan và những nhà nghiên cứu.
Ở cuốn sách này tập thể tác giả đã cố gắng phục dựng lại sáu chiến thắng oanh liệt có ý nghĩa quyết định của quân và dân ta trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thời kỳ phong kiến độc lập. Đó là:
– Chiến thắng Như Nguyệt năm 1077.
– Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.
– Chiến thắng Tốt Động – Chúc Động năm 1426.
– Chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427.
– Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785.
– Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa năm 1789.
Tháng 4 ác liệt
Tác giả: Olivier Todd
Người dịch: Lê Tuấn
Nhà xuất bản: Công an nhân dân
Năm xuất bản: 2004
Trích Lời nói đầu của NXB CAND
…Là một trong những phóng viên phương Tây, Olivier Todd trong cuốn Tháng Tư ác liệt đã kể lại 3 tháng cuối cùng của khoảnh khắc lịch sử, làm sống lại những con người và những sự kiện trong bối cảnh chính trị quốc gia và quốc tế.
Trong cuốn sách ta có thể thấy tất cả mọi diễn biến ở Phước Long, Kontum, Pleiku, Huế, Đà Nẵng…c ho đến tận trung tâm Sài Gòn, cũng như ở Washington, Moskva, Paris. Ta cũng có thể gặp ở đây nhữngnhà lãnh đạo và tướng lĩnh về phía VNDCCH như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Văn Tiến Dũng… và về phía ngụy sài Gòn như Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Dương Văn Minh, Tổng thống Ford hay Kissinger … cho đến khi tấn thảm kịch tan vỡ.
Tháng Tư ác liệt là câu chuyện kể đầy đủ nhất, chính xác nhất về những ngày lịch sử ấy, để rồi khi Sài Gòn sụp đổ, người Mỹ phải ra đi, nhường tương lai mới cho nhân dân Việt Nam…
Ngay sau khi chế độ Taliban sụp đổ, tháng 11-2001 nhà văn Na Uy Asne Seierstad đã đến Kaboul và sống ở đó nhiều tháng trời. Sống như một người Afghanistan trong gia đình người bán sách Sultan Khan để viết một cuốn sách, như bà đã nói trước với họ.
“Hào phóng và cởi mở, mọi người đã dành cho tôi một sự đón tiếp kỳ lạ. Tuy nhiên quả thật tôi hiếm khi nổi giận đến vậy đối với một người khác, tôi hiếm khi cãi nhau và cảm thấy muốn đánh một ai đó bằng những ngày tôi sống ở gia đình Khan. Bao giờ cũng là những lý do đó khiến tôi không thể kiềm chế được: cách đàn ông đối xử với đàn bà”.
Ghi lại những gì mình đã nhìn thấy và nghe kể lại, câu chuyện của A.Seierstad (Ông hàng sách ở Kaboul) đưa người đọc bước vào một thế giới khác, lạ lùng và bí ẩn…
Trích lời nói đầu:
Sultan Khan là một trong những người đầu tiên tôi gặp khi đến Kaboul tháng 11 năm 2001. Lúc đó tôi vừa trải qua sáu tuần sống cùng những người chỉ huy của Liên minh Phương Bắc, từ vùng sa mạc giáp biên giới Tadjikistan đến vùng đồng cỏ phía bắc Kaboul băng qua những dãy núi Hindou Kouch và thung lũng Panshir. Tôi đã đi theo các cuộc tấn công của họ chống quân Taliban, nằm ngủ trên nền sỏi đá, trong những căn lều đắp bằng đất, sát gần mặt trận và di chuyển trên xe quân sự, trên lưng ngựa và đi bộ.
… Những ngăn sách của Sultan Khan đầy ắp các tác phẩm nhiều thứ tiếng, các tuyển tập thơ ca và truyền thuyết của Afganistan, các sách lịch sử, các tiểu thuyết… Là tay buôn sành sỏi, ông đã để ý thấy tôi lần đầu đến cửa hàng của ông đã bê về đến bảy cuốn sách. Thường, lúc rỗi, tôi bước vào hàng ông nhìn qua đôi ba tác phẩm và trò chuyện với ông hàng sách kỳ lạ này, vốn là một người Afganistan ái quốc đã bao lần phải thất vọng vì đất nước của mình.
– Thoạt tiên, những người cộng sản đốt sách của tôi, rồi bọn moudjahidin đến cướp, trước khi bọn Taliban lại đốt sạch, ông ta kể.
Một buổi tối, ông mời tôi dùng bữa ở nhà ông. Cả gia đình ông tụ họp đông đủ, ngồi ngay trên nền nhà, quanh một bữa cơm thịnh soạn: một trong những người vợ của ông, các con trai, các bà chị em gái, người em trai của ông, mẹ ông, và vài người anh em họ. Sultan kể chuyện, các cậu con ông cười và đùa nghịch. Không khí thoải mái, càng làm rõ sự đối lập giữa bữa ăn tối này với những bữa ăn cùng những người chỉ huy trên các vùng núi. Tôi nhận ra ngay là những người đàn bà rất ít nói. Cô vợ vừa mới lớn rất đẹp của Sultan đứng lặng lẽ bên cánh cửa, tay bế con, không hề nói một lời. Người vợ kia của ông không có mặt tối hôm đó. Những người đàn bà khác trả lời các câu hỏi, những lời khen món ăn ngon, nhưng không bao giờ tự mình bắt chuyện.
Ra về tôi tự nhủ: Afganistan là vậy đấy. Thật đáng viết về cái gia đình này.
Hôm sau, tôi đến tìm Sultan ở hiệu sách của ông và trình bày với ông ý định của tôi.
– Rất cảm ơn, ông chỉ nói có vậy.
– Vâng, nhưng vậy thì tôi phải được sống cùng gia đình ông.
– Xin mời.
– Tôi phải đi theo ông, sống đúng như gia đình ông đang sống, như ông, các bà vợ của ông, các cô em gái, các cậu con trai của ông.
– Xin mời, ông lặp lại.
Vậy đó, vào một ngày Tháng Hai u ám, tôi đã đến ở cùng gia đình Khan, toàn bộ đồ đoàn vỏn vẹn có chiếc máy tính xách tay, các cuốn sổ ghi chép, bút máy, một cái điện thoại vệ tinh cùng quần áo và giày dép tùy thân. Những thứ khác đã biến mất trên đường đi của tôi, đâu đó bên Ouzbékistan.
Tôi được đón tiếp nồng nhiệt. Tôi cảm thấy thoải mái trong những chiếc áo dài Afganistan mà những người phụ nữ trong nhà đã cho tôi mượn ngay. Để ngủ, người ta cho tôi một chiếc chiếu cạnh Leila, người có nhiệm vụ chăm cho tôi chẳng bao giờ phải thiếu thứ gì.
– Chị là cháu bé của tôi, cô gái mười chín tuổi ấy bảo tôi như vậy ngay buổi tối đầu tiên. Tôi sẽ chăm sóc chị, cô hứa với tôi, mỗi lần tôi vừa thức giấc là cô đã bật dậy ngay.
Mỗi mong muốn nhỏ của tôi đều phải được thỏa mãn, Sultan đã ra lệnh cho cô như vậy. Mãi về sau tôi mới biết bất cứ kẻ nào không tuân lệnh đó đều sẽ bị phạt.
Suốt ngày người ta cho tôi ăn và uống nước trà. Dần dà tôi thâm nhập vào cuộc sống của gia đình Khan. Các thành viên trong gia đình nói khi nào họ thích, chứ không phải khi tôi đặt các câu hỏi cho họ. Khi tôi cầm cuốn sổ tay ghi chép, thường họ chẳng thích nói, họ chỉ cởi mở lúc đi dạo ở cửa hàng tạp hóa, trên xe buýt, hay lúc đã về khuya. Nhiều khi họ tự động trả lời những câu hỏi mà tôi thậm chí không hề nghĩ đến.
…
Nếu tôi muốn sống trong một gia đình Afganistan hoàn toàn điển hình, thì tôi sẽ phải sống ở nông thôn, trong một thị tộc ở đó không ai biết đọc biết viết và ở đó mỗi ngày là một cuộc chiến đấu để sống còn. Tôi đã không chọn gia đình Khan vì nó đại diện cho tất cả các gia đình khác, mà vì nó khiến tôi thích thú.
Tôi muốn câu chuyện này có vẻ hư cấu, tuy nhiên nó dựa trên cả một trải nghiệm thật mà tôi đã là người chứng kiến hay những diễn viên chính ở đây đã kể lại với tôi. Khi tôi viết những gì những con người ở đây suy nghĩ hay cảm nhận, tôi đã căn cứ trên những điều họ nói với tôi rằng họ đã nghĩ hay cảm nhận như thế trong hoàn cảnh đó. Nhiều độc giả hỏi làm sao tôi đoán được những gì diễn ra trong đầu họ. Đương nhiên tôi không phải là nhà văn cái gì cũng biết tất: khi tôi ghi lại một đối thoại nội tâm, một suy tính, ấy là người ta đã kể lại cho tôi.
…
Ngược lại, có những việc khác tôi không đích thân trải nghiệm, như số phận bi thảm của Jamila hay những lầm lạc của Rahimullah. Người ta cũng kể cho tôi nghe chuyện Sultan đi hỏi vợ, câu chuyện này được các nhân vật trong cuộc thuật lại: Sultan, mẹ ông, Sonya, bố mẹ cô, những người chị em, người anh trai và Sharifa.
Mọi người đều biết tôi sống trong nhà họ để viết một cuốn sách; khi họ muốn tôi không nói đến một chuyện nào đó, họ bảo cho tôi biết. Tuy vậy tôi đã chọn biến họ thành vô danh cũng như những nhân vật khác trong câu chuyện này. Không ai bảo tôi phải làm như vậy, nhưng tôi thấy nên thế.
Cuộc sống hằng ngày của tôi là cuộc sống của gia đình này. Được đánh thức dậy từ buổi bình minh bởi những tiếng kêu của bọn trẻ và những mệnh lệnh của những người đàn ông, tôi sắp hàng chờ đến lượt trước phòng tắm hay chuồi vào đó khi mọi người đã dùng xong. Đôi khi, may mắn, còn có nước nóng, nhưng tôi đã nhanh chóng học biết được cái bổ mát của một cốc nước lạnh dội lên mặt. Suốt ngày hoặc tôi sống cùng những người phụ nữ, lúc ở nhà, lúc đi thăm họ hàng hay đi cửa hàng bách hóa, hoặc cùng Sultan và các cậu con trai của ông, ở hiệu sách, trong thành phố hay đi đây đi đó. Buổi tối, tôi ăn tối cùng gia đình và uống chè xanh cho đến giờ đi ngủ.
Dẫu tôi có là khách mời, rất nhanh chóng gia đình đã trở thành thân thuộc đối với tôi. Hào phóng và cởi mở, mọi người đã dành cho tôi một sự đón tiếp kỳ lạ. Tuy nhiên quả thật tôi hiếm khi nổi giận đến vậy đối với một người khác, tôi hiếm khi cãi nhau và cảm thấy muốn đánh một ai đó bằng những ngày tôi sống ở gia đình Khan. Bao giờ cũng là những lý do đó khiến tôi không thể kìm chế được: cách đàn ông đối xử với đàn bà. Định kiến về ưu thế của đàn ông ăn sâu đến mức đặc biệt lắm nó mới bị tranh cãi.
…
Tôi đã sử dụng chiếc burkha để nhập vai một người đàn bà Afganistan, để cảm biết được cái cảm giác, khi trên một chiếc xe buýt trống một nửa, mà lại phải chen nhau ở ba hàng ghế cuối cùng chật cứng dành riêng cho phụ nữ, cái cảm giác phải co mình lại trong một thùng xe taxi vì có một người đàn ông đã ngồi ở hàng ghế sau, cái cảm giác được coi là một cái burkha cao lớn và hấp dẫn và nhận được lời khen cái burkha đầu tiên của một người qua đường. Tôi đã thấy dần dần tôi đâm ra ghê tởm cái burkha đến mức nào, nó siết chặt trán tôi và khiến tôi đau đầu đến mức nào, cái mạng lưới của nó hạn chế tầm nhìn đến mức nào, nó gò bó và bí bức, khiến người ta nhanh chóng ngột ngạt đến chừng nào, ta phải hết sức chú ý đến cái chỗ ta bước đến chừng nào vì không thể nhìn thấy được bàn chân mình, nó bắt bụi, bẩn đi nhanh chóng đến mức nào, và thật thoải mái sung sướng đến mức nào được hất tung ra khi đã trở về đến nhà.
Cuối cùng tôi đã sử dụng burkha làm vật che chở khi tôi cùng với Sultan đi theo con đường nguy hiểm dẫn đến Jalalabad và chúng tôi phải qua đêm ở một nơi nghỉ chân nguy hiểm tại biên giới, hay khi chúng tôi đi ra ngoài đêm khuya. Nói chung, phụ nữ Afganistan chẳng mấy khi đi ra ngoài với một nắm tờ trăm đô la và một cái máy tính xách tay, vậy nên khoác burkha giúp tôi tránh được bọn cướp.
Tôi đã sống ở Kaboul mùa xuân đầu tiên sau khi bọn Taliban bỏ chạy. Mùa xuân ấy phập phồng một hy vọng mong manh. Dân chúng vui mừng vì bọn chúng đã cút đi, họ không còn phải sợ đám cảnh sát tôn giáo hành hạ trên đường phố, phụ nữ lại được đi lại một mình ngoài đường, họ có thể đi học, con gái được đến trường. Nhưng mùa xuân ấy cũng vẫn còn in đậm những nỗi thất vọng mấy chục năm qua. Tại sao bây giờ tình hình lại khá lên được?
Suốt mùa xuân, đất nước tương đối thanh bình, người ta có lạc quan hơn. Người ta toan tính các dự án, phụ nữ bỏ burkha ở nhà ngày càng nhiều, một số phụ nữ đã bắt đầu làm việc, những người lưu vong trở về.
Cũng như trước đây, chế độ lưỡng lự giữa truyền thống và hiện đại, giữa các thống lãnh chiến tranh và các thống lãnh bộ lạc. Trong tình trạng hỗn loạn ấy, vị cầm đầu Hamid Karzaù cố tạo nên một thế cân bằng và xác định một định hướng chính trị. Là người bình dân, ông không có quân đội cũng chẳng có đảng phái, trong một đất nước đầy súng đạn và những bọn phiến loạn đang chiến đấu.
Ở Kaboul, tình hình tương đối yên tĩnh, bất chấp hai vụ sát hại hai vị bộ trưởng, cuộc mưu sát một vị thứ ba và việc tiếp tục các cuộc tấn công chống lại dân chúng. Đa số người dân tin vào những người lính ngoại quốc vẫn tuần tra trên các đường phố: “Không có họ, thì sẽ có nội chiến mất thôi”.
Tôi đã ghi lại những gì tôi đã nhìn thấy và nghe thấy và cố gắng tập họp lại trong câu chuyện này những cảm xúc của tôi về một mùa xuân ở Kaboul, khi một số người cố vượt qua mùa đông để sinh sôi nảy nở trong khi những người khác thấy mình phải tiếp tục chịu kiếp “ăn bụi” thôi, như Leila sẽ nói.
Ásne Seierstad
Oslo, ngày 1 tháng 6-2002
Taliban là những sinh viên thần học được đào tạo trong các trường Hồi giáo miễn phí gọi là madrasa. Từ năm 1996 đến năm 2001 họ chiếm được toàn bộ Afganistan sau một cuộc nội chiến ác liệt và thiết lập một chế độ cai trị khắc nghiệt trên khắp đất nước.
Tức những chiến binh thành chiến theo đạo Hồi, trung thành với tổng thống Daoud, người bị lật đổ và bị giết năm 1993.
Burkha: áo choàng của phụ nữ Hồi Giáo, trùm kín từ đầu đến quá mắt cá chân, chỉ trước mắt có một mạng lưới dày cho phép nhìn thấy lờ mờ những gì diễn ra trước mặt.
Những trích dẫn đặc sắc / Những lời nhận xét đặc biệt về sách
Khi Sultan cho là đã đến lúc tìm một người vợ mới thì chẳng ai muốn giúp ông cả. Trước tiên, ông đến gặp mẹ.
– Hãy bằng lòng với người vợ con đã có!
Ông bèn nói với người chị cả.
– Tôi quý người vợ của cậu lắm.
Những người chị em khác của ông cũng trả lời ông hệt như vậy.
Bà cô ông thì bảo:
– Như vậy là mày làm nhục Sharifa đấy.
Sultan cần được giúp đỡ. Một người muốn lấy vợ không thể tự mình đi hỏi, phong tục Afghanistan đòi hỏi phải có một người phụ nữ trong gia đình người đàn ông đứng ra xin hỏi và xem xét kỹ cô dâu hơn để coi cô có xứng đáng không, có được dạy dỗ tốt và có khá giả không. Vậy mà bất kể thế nào chẳng có ai chung quanh Sultan muốn dính dáng vào việc này.
Sultan thử nhắm Sonya, 16 tuổi. Cô có đôi mắt màu hạnh nhân đục và mái tóc đen nhánh. Người ta bảo cô nở nang và chăm làm. Gia đình cô nghèo, bà cố ngoại cô và bà cố ngoại Sultan là hai chị em.
Trong khi Sultan suy tính làm sao tự mình lấy được người mình thích thì bà vợ của ông thản nhiên vui sướng, không hề hay biết một cô gái trẻ, sinh ra đúng vào năm bà cưới Sultan, từ nay đang chiếm hết tâm trí ông chồng. Đã 50 tuổi và trải qua bao nhiêu lầm bụi, Sharifa đã bắt đầu già, cũng như chính Sultan vậy. Bà đã sinh cho ông ba người con trai và một con gái. Đối với một người ở vị thế của ông, đã đến lúc tìm một người vợ khác.
Cuối cùng người em trai ông bảo:
– Thôi thì tự anh cứ đi mà hỏi lấy.
Sau khi suy nghĩ ít nhiều, Sultan biết rằng đó là giải pháp duy nhất, và một buổi sáng ông đến nhà cô gái. Bố mẹ cô đón tiếp người anh em họ này rất vồn vã. Sultan có tiếng là người hào phóng và các cuộc thăm viếng của ông bao giờ cũng được hoan nghênh.
– Cháu có một người bạn muốn được cưới Sonya.
Đây không phải là lần đầu tiên có người đến hỏi Sonya, cô đẹp và chăm làm, nhưng họ thấy cô còn quá trẻ. Bố Sonya là người tàn phế. Một cuộc đánh nhau bằng dao đã cắt đứt nhiều dây thần kinh cột sống của ông và ông bị liệt. Khi Sonya lấy chồng, cô có thể mang về cho bố mẹ nhiều tiền và do vậy họ chờ đợi một chỗ hời hơn những người đã đến dạm hỏi trước đây.
– Anh ta giàu có – Sultan mở đầu – Anh ta làm cùng ngành với cháu, là người có học vấn và đã có ba cậu con trai. Nhưng vợ anh ta đã bắt đầu già.
– Răng anh ta thế nào? – Bố mẹ cô gái hỏi ngay, ý muốn nói đến tuổi anh bạn nọ.
– Cũng gần giống như răng cháu. Hai bác cứ đoán xem.
Già đấy, họ nghĩ thầm. Dẫu sao đó cũng không nhất thiết là một trở ngại: người đi hỏi cô gái càng lớn tuổi thì càng phải trả nhiều tiền. Cái giá của một cô gái tùy thuộc tuổi tác, nhan sắc, các khả năng và cương vị xã hội của cô. Khi Sultan đã trình lời khẩn cầu của mình, bố mẹ cô nói đúng câu trả lời đã đoán trước được: “Nó còn trẻ quá”. Trả lời cách khác thì cũng bằng đem bán cô con gái với giá quá rẻ cho anh chàng giàu có chưa quen biết.
Ngày hôm sau ông đến lặp lại lời khẩn cầu của mình. Vẫn những đối thoại ấy, câu trả lời ấy. Song lần này ông được gặp Sonya mà ông đã không nhìn thấy kể từ khi cô còn là một đứa bé. Cô hôn tay ông vì lòng kính trọng đối với người họ hàng lớn tuổi hơn, và ông hôn lên mái tóc cô. Sonya nhận ra bầu không khí trầm nặng và thu mình lại dưới cái nhìn dò xét của ông cậu Sultan.
– Tôi đã tìm được cho cô một người đàn ông giàu có, cô nghĩ sao? – Ông hỏi.
Sonya cúi nhìn xuống. Trả lời sẽ là vi phạm mọi thông tục. Một người con gái không được quyền có ý kiến về việc người ta hỏi mình làm vợ.
Ngày thứ ba Sultan trở lại, và lần này ông nói rõ đề nghị của người hỏi cưới. Một chiếc nhẫn, một chiếc vòng đeo cổ, hoa tai và vòng tay – tất cả đều bằng vàng đỏ. Mọi thứ quần áo cô thích. 300kg gạo, 150kg dầu ăn, một con bò cái, vài con cừu và 50 triệu đồng afgani, tức hơn 400 USD đôi chút.
Bố Sonya quá bằng lòng với cái giá được đưa ra và yêu cầu được gặp mặt con người bí mật đã đề nghị món cống vật nọ.
– Ngày mai – Sultan hứa – hai bác sẽ thấy một bức ảnh của anh ta.
Hôm sau, bà cô của ông, mà ông đã có lo lót chút ít, nhận lời nói rõ cho bố mẹ Sonya biết tên tuổi thật của người muốn cưới cô. Bà mang theo một tấm ảnh của chính Sultan và dứt khoát yêu cầu họ trả lời trong một tiếng đồng hồ. Nếu họ nhận lời, Sultan sẽ rất biết ơn, còn nếu không thì quan hệ giữa đôi bên vẫn tốt như lâu nay.
Bố mẹ Sonya đồng ý ngay trước khi một tiếng kết thúc. Họ đánh giá cao bản thân Sultan cũng như tài sản và địa vị của ông. Trong nhà kho, Sonya khóc.
Cô biết rằng cô không muốn con người ấy, nhưng cũng biết phải tuân theo ý bố mẹ. Làm vợ Sultan, cô sẽ leo lên cao hơn nhiều bậc trong tôn ti xã hội Afghanistan. Cái giá cao của cô dâu sẽ giải quyết được rất nhiều vấn đề, món tiền có được sẽ giúp các anh em trai của cô mua được những người vợ tốt. Sonya câm lặng. Số phận cô đã được quyết định: không nói gì tức là đồng ý. Hôn ước được ký, ngày cưới được ấn định.
Sultan trở về nhà báo tin vui. Ông thấy vợ ông là Sharifa, mẹ ông và các chị em gái ông đang ngồi trên nền nhà quanh mâm cơm có món rau bina. Sharifa tưởng chuyện đùa cười phá lên và đùa trả lại ông, cũng như bà mẹ của Sultan không thể nào tin được rằng ông có thể đi hỏi vợ mà không có sự đồng ý của họ. Các chị em gái của ông thì lặng thinh.
Không ai muốn tin, cho đến khi ông đưa ra chiếc khăn tay và những món của ngọt mà một người đi hỏi vợ nhận được của bố mẹ cô dâu làm bằng chứng hôn ước.
Sharifa khóc suốt 20 ngày.
– Tôi đã làm gì xấu xa nào? Nhục nhã quá chừng! Tại sao anh không còn yêu tôi?
Sultan van bà hãy tỉnh trí lại. Không người nào trong gia đình ủng hộ ông, ngay cả các con trai của ông cũng vậy. Nhưng không ai dám nói bất kỳ điều gì. Ý muốn của Sultan bao giờ cũng phải được thực hiện. Không ai muốn dự lễ đính hôn. Tuy nhiên Sharifa đã phải can đảm nuốt lấy nỗi sỉ nhục của mình mà trang điểm cho buổi tiếp khách.
– Tôi muốn mọi người thấy rằng bà đồng ý với tôi và ủng hộ tôi. Tương lai chúng ta sẽ cùng sống chung với nhau và bà phải tỏ cho Sonya thấy rằng bà vui vẻ tiếp nhận cô ấy – ông ra lệnh.
Bao giờ Sharifa cũng tuân theo sở thích của chồng và bây giờ bà chiều ông điều tệ hại nhất: nhường ông cho một người phụ nữ khác. Thậm chí ông còn đòi Sharifa tự tay đeo nhẫn cho ông và Sonya.
Hai tháng sau, người ta tiến hành lễ cưới vào dịp năm mới theo đạo Hồi. Sharifa từ chối tham dự.
– Tôi không thể – bà giải thích với chồng.
Những người phụ nữ trong gia đình đứng về phía bà. Không ai mua áo mới, không ai son phấn như thường lệ vào dịp lễ cưới. Họ để đầu tóc bình thường, họ cười mà như nhăn nhó – để tỏ lòng kính trọng người đã bị loại, không còn chia sẻ chiếc giường ngủ cùng Sultan, chiếc giường từ nay được dành riêng cho cô dâu trẻ rụt rè nọ. Còn ngôi nhà của họ thì ngược lại, tất cả họ phải cùng nhau chia sẻ cho đến khi cái chết chia tách họ ra.
Trong câu chuyện của người phương Tây Asne Seierstad, những người phụ nữ Afghanistan cứ trở đi trở lại như một nỗi xót xa. Sống chung một nhà với các bà vợ và các cô em gái của ông chủ cửa hàng sách Sultan Khan, cái nhìn của nhà văn nữ vừa ngạc nhiên vừa phẫn nộ…
Những nội dung khác
Thông tin thêm về tác giả Asne Seierstad và tác phẩm The Bookseller of Kabul
Ngày 22-5, nhà báo Na Uy Asne Seierstad đã vượt qua các đối thủ nặng ký như tiểu thuyết gia Monica Ali (tác phẩm Brick Lane) để đoạt giải thưởng cao quí Emma với tác phẩm bestseller The Bookseller of Kabul, hiện đang là một trong những cuốn sách bán chạy nhất tại Anh.
Giải Emma có mục đích tôn vinh những người đã có đóng góp to lớn vào việc tăng cường sự hiểu biết và cảm thông giữa các nền văn hóa khác nhau. Giải Emma năm 2003 về tay đạo diễn Mỹ Michael Moore. Ban giám khảo đề cử các ứng viên giải dựa vào ý kiến của 20.000 người hoạt động trong các lĩnh vực thông tấn báo chí. Công chúng sẽ bầu người đoạt giải.
Thành công không trọn vẹn
Một năm sau khi xuất bản cuốn The bookseller of Kabul nói về một gia đình ba thế hệ ở Kabul, Afghanistan, Asne Seierstad, 33 tuổi, đã phải tự hỏi: “Có lẽ tôi đã đánh lừa chính mình khi nghĩ rằng nhân vật chính trong sách sẽ không phản ứng gì cả”. Người bán sách Shah Mohammed Rais, 60 tuổi, mà trong sách được đổi tên thành Sultan Khan đã thề sẽ kiện bà về tội phỉ báng để phục hồi danh dự cho mình.
Ông ta cho biết rất phẫn nộ trước việc một người được ông mời vào nhà sống bốn tháng như thân thuộc lại mô tả ông như kẻ lạc hậu, chuyên chế và nô dịch phụ nữ kể cả người vợ thứ còn rất trẻ. “Tôi đồng ý là có một số chi tiết lấn quá xa vào đời tư, nhưng tôi chỉ muốn nói lên một sự thật về phụ nữ Afghanistan” – Asne nói.
Chỉ riêng tại Na Uy, 220.000 ấn bản The bookseller of Kabul đã bán hết. Tháng 8-2003 cuốn sách có mặt tại Anh, Mỹ và giữ vị trí bestseller trong nhiều tháng liền. Đây là cuốn sách không thuộc thể loại tiểu thuyết bán chạy nhất trong lịch sử Na Uy. Phân nửa số tiền thu lợi từ sách được Asne gửi đến các tổ chức thiện nguyện đấu tranh cho quyền phụ nữ tại Afghanistan. “Tôi rất bức xúc trước việc họ hầu như mỗi ngày đều bị tra tấn tinh thần một cách rất tàn nhẫn” – bà nói. Mặc dù tác giả đã lược bỏ những đoạn văn bị xem là xúc phạm khi in lại nhưng Rais, hiện bán sách chủ yếu cho du khách và người nước ngoài tại khách sạn Intercontinental ở Kabul, vẫn chưa bằng lòng.
Trong vòng một tháng ông đã gửi 40 đơn tố cáo cuốn sách lăng nhục văn hóa Afghanistan và đạo Hồi. Ông còn dọa sẽ đưa vụ kiện sang cả nước Anh. Báo chí Na Uy đưa tin về cuộc đấu khẩu này gần như mỗi ngày làm phát sinh câu hỏi về tính đạo đức của các nhà quan sát phương Tây khi mô tả về những gì đang diễn ra tại các nước nghèo, đang phát triển. “Tôi đồng ý là có lẽ mình nên cẩn thận hơn khi tung cuốn sách ra thị trường. Nhưng tôi chỉ nói lên sự thật chứ không hề bịa đặt. Một phần khá lớn cuốn sách liên quan đến việc bán sách của Rais chứ không chăm bẳm vào việc mô tả ông ta như tên đồ tể của phụ nữ” – Asne nói.
Asne có điều gì phải lo về vụ kiện? Có lẽ không nhiều lắm vì một cuộc thăm dò dư luận mới đây cho thấy phần lớn dân chúng Na Uy thông cảm và ủng hộ bà. Bà cũng được sự hỗ trợ của các phụ nữ Afghanistan sống ở nước ngoài. “Nhiều người nói là tôi đã viết sự thật, thậm chí chưa đi đủ xa” – Asne nói và cho biết vụ kiện có thể sẽ được rút lại, nhưng Rais khẳng định đến cuối năm nay vụ kiện sẽ được xét xử.
Mọi việc bắt đầu cuối năm 2001, khi Asne theo quân Liên minh phương Bắc tiến vào Kabul để trám chỗ trống do phe Taliban vừa sụp đổ để lại. Một trong số người bà kết thân được trong thành phố là ông hàng sách Rais, người từng sống gian khổ qua nhiều chế độ. “Ông ta bị ngồi tù nhiều lần trong các chế độ khác nhau và sách của ông bị cướp phá, bị xé, bị đốt thường xuyên. Afghanistan cần những người nhiệt tâm với sách như ông ấy” – Asne nói.
Trong khi giới thiệu cho khách những cuốn sách cổ, Rais bắt đầu kể chuyện riêng của mình. Ông không chỉ nói về cuộc đấu tranh để bảo vệ bộ sưu tập sách quí mua từ các tủ sách tư nhân giấu trên tầng áp mái, mà còn nói về những chuyến du hành đến nhiều nơi xa xăm để bổ sung cho bộ sưu tập. Cần mẫn, ông làm việc như người bảo tồn tự nguyện các vốn quí của dân tộc Afghanistan bất chấp thái độ thù nghịch của Taliban. Là người nhạy bén với kinh doanh, Rais thú nhận ông kiếm được nhiều tiền nhờ bán sách thi ca vùng Persic, sách khoa học và ông đã nhiều lần đến Tehran (Iran) và Moscow (Nga) để tìm hiểu thị trường.
Vào thập niên 1970 khi Afghanistan còn yên ổn, cửa hàng sách của ông có nhiều trí thức, giáo sư và cả những tay hippie đi du lịch đến Ấn Độ ghé thăm. Ông cho biết trong ba thập niên có nhiều người nước ngoài đến cửa hiệu sách của ông để tìm những tư liệu họ muốn biết. “Người Nga dễ thương và lễ phép. Họ mua nhiều sách nói về nền văn hóa Afghanistan. Người Mỹ hiếm khi đến đây. Họ rất thô lỗ, thích văng tục, đeo kính đen và rảo khắp với súng ống đầy người” – Rais nói.
Dưới triều Taliban, Rais phải giấu phần lớn sách quí của mình. Hôm nay, những cuốn sách từng bị Taliban hủy hoại một phần đang trở thành vật lưu niệm được các nhân viên viện trợ và lính giữ gìn hòa bình người nước ngoài ưa thích. Họ thuộc số khách hàng chủ lực của ông. Người dân sở tại chỉ mua sách về máy tính, dạy nấu ăn, dạy tiếng Anh chứ không mua sách chính trị, triết học và kinh tế. “Cuộc sống hiện tại quá khó khăn, kinh tế lụn bại. Mua một cuốn sách là cả vấn đề. Người ta phải dành tiền mua thực phẩm vì đó là nhu cầu thiết yếu mà ngày càng đắt đỏ” – Rais nói. Sách của Asne ít nói về quá khứ của Rais và của thành phố.
Từ tiệm sách Shah M Books của mình, Rais theo dõi lịch sử Kabul và dự định viết một cuốn tự truyện trong đó đan xen cả cuộc sống phi thường của thành phố qua những bước thăng trầm. Tiệm sách của ông nằm ngay một giao lộ đông đúc, nơi những tay lái môtô thường xuyên gây gổ, đánh nhau bằng hung khí do va chạm. Rais có những cuốn sách rất quí về Trung Á. Ông nói: “Tôi không hề lạc quan về tương lai Afghanistan. Sau quá nhiều đau khổ chúng tôi đang trở thành nhà nước mafia. Nếu tôi có 100.000 đôla trong tay có nghĩa là tôi đã lên án tử cho mình”.
Cuộc đấu khẩu
Rais tin rằng thời gian ngắn ngủi Asne ở lại Kabul không đủ để nắm hết mọi vấn đề của đất nước này. “Bà ấy giới thiệu một hình ảnh méo mó của Afghanistan ra thế giới. Phụ nữ Afghanistan chịu đựng nhiều nhưng đó là do chiến tranh và kinh tế khó khăn”. Rais cho biết chân dung của ông trong cuốn The bookseller of Kabul đã bị thêu dệt bởi một nhà báo phản bội từng được gia đình ông tiếp đãi tử tế như người thân.
Còn trong cuốn sách sắp viết, Rais sẽ kể lại cuộc sống gian truân và hào hùng của ông trong việc bán sách, bắt đầu từ lúc ông còn là sinh viên Đại học Kabul. Đó sẽ là một câu chuyện rất khác với những gì kể trong The bookseller of Kabul, mà theo ông là chỉ để “câu” người đọc phương Tây vốn đang khao khát biết những gì diễn ra dưới chế độ Taliban và dễ tin vào những tiết lộ chưa được kiểm chứng.
Rais nổi tiếng trong giới báo chí phương Tây là một trong các nguồn tin độc lập nhất và tốt nhất của Kabul. Ông giúp đỡ nhiều cho đội ngũ phóng viên đổ về Kabul săn tin sau sự sụp đổ của Taliban và ông là kho báu vô giá của những người nước ngoài muốn tìm hiểu về đất nước Afghanistan khép kín sau 24 năm chiến tranh dai dẳng.
Theo Tuổi trẻ chủ nhật – Lê Tây Sơn (tổng hợp)
Những tư tưởng rối bù
STANISŁAW JERZY LEC
STANISŁAW JERZY LEC [đọc như Letz] là một nhà thơ Ba-lan, tác giả khoảng hai ngàn câu “cách ngôn”. Ông sinh năm 1909 tại Lwów, ở Galicie, trong một gia đình Do-thái. Sau khi học luật và ngữ ngôn học Ba-lan, ông khởi nghiệp nhà báo và nhà thơ ở Vac-xa-va. Bị bắt nhốt trong trại tập trung của Đức quốc xã từ 1941 tới 1943, ông đã vượt thoát và gia nhập hàng ngũ quân kháng chiến.
Từ 1946 tới 1950, ông làm tùy viên báo chí cho Phái bộ chính trị Ba-lan ở Vienne. Và bắt đầu viết những câu “cách ngôn”.
Những câu “cách ngôn” này xuất hiện từ 1954 trên các tạp chí văn nghệ Ba-lan và, vào năm 1957, dưới hình thức ‘xã luận’, hết sức thành công cả ở trong lẫn ngoài nước, đặc biệt là ở Đức. Trong bản Pháp văn, người ta đã có nhận xét về những câu ấy như “…sự cô đọng có tính cách xói mòn cao độ, chống lại sự man dã đen và đỏ của thời đại, chống lại sự tầm thường quá ồn ào của những kẻ tiếm đoạt quyền bính và ngôn ngữ, chống lại sự hèn nhát và ích kỷ chung của con người…”
Stanisław Jerzy Lec mất năm 1966.
Bản dịch dựa theo bản Pháp văn của André và Zofia Kozimor, do nhà xuất bản NOIR SUR BLANC in tại Lausanne vào tháng 10-1991, với nhiều minh họa của Roland Topor và lời đề tựa của Claude Roy.
Chỉ một từ cũng đủ: cái còn lại chỉ là những từ.
S. J. LEC
Sản phẩm của con ong có giá trị kinh tế cao, không những cho nhu cầu tiêu thụ nội địa mà còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Tuy nuôi ong có tỷ xuất lợi nhuận cao nhưng cũng không ít hộ gia đình nuôi ong còn bị thua lỗ, bị bốc bay cả đàn… thường là do chưa nắm được kiến thức và kỹ thuật nuôi ong tiên tiến của chương trình đào tạo kỹ thuật nuôi ong do trung tâm nghiên cứu ong Trung ương tổ chức.
Sách được trình bày ngắn gọn, nội dung sát với thực tiễn nghề nuôi ong ở nước ta, kết hợp tri thức khoa học tiên tiến với kinh nghiệm nuôi ong từ bao đời nay của người Việt nam sẽ giúp bạn đọc có thêm những hiểu biết, kinh nghiệm trong nghề nuôi ong.
Nội dung gồm 5 phần:
Phần I: Cơ sở khoa học của nghề nuôi ong.
Phần II: Công nghệ nuôi ong lấy mật.
Phần III : Thức ăn và nuôi dưỡng đàn ong. Công cụ nuôi ong.
Phần IV: Hiệu quả kinh tế của nghề nuôi ong.
Phần V : Bệnh ong và các biện pháp phong trị.
Với cuốn sách này, chúc bạn thành công trong nghề nuôi ong
Quất Trung Bí là tác phẩm cổ điển về cờ Tướng nổi tiếng nhất trong kho tàng lý thuyết cờ Tướng thế giới. Đã gần 400 năm qua, biết bao nhiêu thế hệ những người chơi cờ Tướng đã coi đây là quyển sách gối đầu giường của mình.
Quất Trung Bí giải đáp được những vấn đề: đâu là những nước đi chính xác, đâu là những nước đi sai lầm, đi tiên có thắng không, chấp tiên có thắng không, chấp 1 Mã có thắng không, những thế cờ tàn nào thì thắng, thế nào thì hòa…
Quất Trung Bí trình bày hàng loạt thế trận quan trọng nhất trong cờ Tướng mà ai chơi cờ cũng sẽ gặp phải.
Sách được tái bản gồm có 2 tập:
Tập 1 gồm: 20 cục đắc tiên và 13 cục nhượng tiên
Tập 2 gồm: 10 cục chấp 1 mã, 8 cục chấp 2 Mã và 135 thế tàn cục cơ bản nhất.
Xin giới thiệu Tập 2 .
“Bệnh tim mạch là một trong những bệnh hàng đầu của con người tại các nước phát triển và cả những nước đang phát triển. Trong thế kỷ qua, nhờ sự đầu tư nghiên cứu tích cực, hiểu biết về loại bệnh này ngày càng sâu rộng hơn. Rất nhiều sách, tạp chí trình bày các hiểu biết về các nghiên cứu sâu tronglĩnh vực này. Các nghiên cứu về tim mạch không chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, các nghiên cứu quan sát mà còn các nghiên cứu cơ bản.
Bộ sách Bệnh học tim mạch nà là thành quả của nhiều thầy thuốc thự hành tim mạch trong cả nước, bao gồm các Bác sĩ lâm sàng và Bác sĩ cận lâm sàng. Mục tiêu của bộ sách là trình bày một cách có hệ thống sự hiểu biết về lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh lý tim mạch. Bộ sách bao gồm 3 tập đề cập đến các vấn đề tim mạch cần thiết cho người thầy thuốc tim mạch, thầy thuốc nội khoa, các sinh viên Y khoa và các điều dưỡng.”