Ông hàng sách ở Kaboul – Tài Liệu Mới – chia sẻ ebook- download free

Tài Liệu Mới - chia sẻ ebook- download free

Cùng xây dựng cách mạng công nghiệp 4.0

[wpdreams_ajaxsearchpro id=1]

Ông hàng sách ở Kaboul


Video đang hot


BẤM ĐỂ XEMNgay sau khi chế độ Taliban sụp đổ, tháng 11-2001 nhà văn Na Uy Asne Seierstad đã đến Kaboul và sống ở đó nhiều tháng trời. Sống như một người Afghanistan trong gia đình người bán sách Sultan Khan để viết một cuốn sách, như bà đã nói trước với họ.

“Hào phóng và cởi mở, mọi người đã dành cho tôi một sự đón tiếp kỳ lạ. Tuy nhiên quả thật tôi hiếm khi nổi giận đến vậy đối với một người khác, tôi hiếm khi cãi nhau và cảm thấy muốn đánh một ai đó bằng những ngày tôi sống ở gia đình Khan. Bao giờ cũng là những lý do đó khiến tôi không thể kiềm chế được: cách đàn ông đối xử với đàn bà”.

Ghi lại những gì mình đã nhìn thấy và nghe kể lại, câu chuyện của A.Seierstad (Ông hàng sách ở Kaboul) đưa người đọc bước vào một thế giới khác, lạ lùng và bí ẩn…

Trích lời nói đầu:

Sultan Khan là một trong những người đầu tiên tôi gặp khi đến Kaboul tháng 11 năm 2001. Lúc đó tôi vừa trải qua sáu tuần sống cùng những người chỉ huy của Liên minh Phương Bắc, từ vùng sa mạc giáp biên giới Tadjikistan đến vùng đồng cỏ phía bắc Kaboul băng qua những dãy núi Hindou Kouch và thung lũng Panshir. Tôi đã đi theo các cuộc tấn công của họ chống quân Taliban, nằm ngủ trên nền sỏi đá, trong những căn lều đắp bằng đất, sát gần mặt trận và di chuyển trên xe quân sự, trên lưng ngựa và đi bộ.

… Những ngăn sách của Sultan Khan đầy ắp các tác phẩm nhiều thứ tiếng, các tuyển tập thơ ca và truyền thuyết của Afganistan, các sách lịch sử, các tiểu thuyết… Là tay buôn sành sỏi, ông đã để ý thấy tôi lần đầu đến cửa hàng của ông đã bê về đến bảy cuốn sách. Thường, lúc rỗi, tôi bước vào hàng ông nhìn qua đôi ba tác phẩm và trò chuyện với ông hàng sách kỳ lạ này, vốn là một người Afganistan ái quốc đã bao lần phải thất vọng vì đất nước của mình.

– Thoạt tiên, những người cộng sản đốt sách của tôi, rồi bọn moudjahidin đến cướp, trước khi bọn Taliban lại đốt sạch, ông ta kể.

Một buổi tối, ông mời tôi dùng bữa ở nhà ông. Cả gia đình ông tụ họp đông đủ, ngồi ngay trên nền nhà, quanh một bữa cơm thịnh soạn: một trong những người vợ của ông, các con trai, các bà chị em gái, người em trai của ông, mẹ ông, và vài người anh em họ. Sultan kể chuyện, các cậu con ông cười và đùa nghịch. Không khí thoải mái, càng làm rõ sự đối lập giữa bữa ăn tối này với những bữa ăn cùng những người chỉ huy trên các vùng núi. Tôi nhận ra ngay là những người đàn bà rất ít nói. Cô vợ vừa mới lớn rất đẹp của Sultan đứng lặng lẽ bên cánh cửa, tay bế con, không hề nói một lời. Người vợ kia của ông không có mặt tối hôm đó. Những người đàn bà khác trả lời các câu hỏi, những lời khen món ăn ngon, nhưng không bao giờ tự mình bắt chuyện.

Ra về tôi tự nhủ: Afganistan là vậy đấy. Thật đáng viết về cái gia đình này.

Hôm sau, tôi đến tìm Sultan ở hiệu sách của ông và trình bày với ông ý định của tôi.

– Rất cảm ơn, ông chỉ nói có vậy.

– Vâng, nhưng vậy thì tôi phải được sống cùng gia đình ông.

– Xin mời.

– Tôi phải đi theo ông, sống đúng như gia đình ông đang sống, như ông, các bà vợ của ông, các cô em gái, các cậu con trai của ông.

– Xin mời, ông lặp lại.

Vậy đó, vào một ngày Tháng Hai u ám, tôi đã đến ở cùng gia đình Khan, toàn bộ đồ đoàn vỏn vẹn có chiếc máy tính xách tay, các cuốn sổ ghi chép, bút máy, một cái điện thoại vệ tinh cùng quần áo và giày dép tùy thân. Những thứ khác đã biến mất trên đường đi của tôi, đâu đó bên Ouzbékistan.

Tôi được đón tiếp nồng nhiệt. Tôi cảm thấy thoải mái trong những chiếc áo dài Afganistan mà những người phụ nữ trong nhà đã cho tôi mượn ngay. Để ngủ, người ta cho tôi một chiếc chiếu cạnh Leila, người có nhiệm vụ chăm cho tôi chẳng bao giờ phải thiếu thứ gì.

– Chị là cháu bé của tôi, cô gái mười chín tuổi ấy bảo tôi như vậy ngay buổi tối đầu tiên. Tôi sẽ chăm sóc chị, cô hứa với tôi, mỗi lần tôi vừa thức giấc là cô đã bật dậy ngay.

Mỗi mong muốn nhỏ của tôi đều phải được thỏa mãn, Sultan đã ra lệnh cho cô như vậy. Mãi về sau tôi mới biết bất cứ kẻ nào không tuân lệnh đó đều sẽ bị phạt.

Suốt ngày người ta cho tôi ăn và uống nước trà. Dần dà tôi thâm nhập vào cuộc sống của gia đình Khan. Các thành viên trong gia đình nói khi nào họ thích, chứ không phải khi tôi đặt các câu hỏi cho họ. Khi tôi cầm cuốn sổ tay ghi chép, thường họ chẳng thích nói, họ chỉ cởi mở lúc đi dạo ở cửa hàng tạp hóa, trên xe buýt, hay lúc đã về khuya. Nhiều khi họ tự động trả lời những câu hỏi mà tôi thậm chí không hề nghĩ đến.

…

Nếu tôi muốn sống trong một gia đình Afganistan hoàn toàn điển hình, thì tôi sẽ phải sống ở nông thôn, trong một thị tộc ở đó không ai biết đọc biết viết và ở đó mỗi ngày là một cuộc chiến đấu để sống còn. Tôi đã không chọn gia đình Khan vì nó đại diện cho tất cả các gia đình khác, mà vì nó khiến tôi thích thú.

Tôi muốn câu chuyện này có vẻ hư cấu, tuy nhiên nó dựa trên cả một trải nghiệm thật mà tôi đã là người chứng kiến hay những diễn viên chính ở đây đã kể lại với tôi. Khi tôi viết những gì những con người ở đây suy nghĩ hay cảm nhận, tôi đã căn cứ trên những điều họ nói với tôi rằng họ đã nghĩ hay cảm nhận như thế trong hoàn cảnh đó. Nhiều độc giả hỏi làm sao tôi đoán được những gì diễn ra trong đầu họ. Đương nhiên tôi không phải là nhà văn cái gì cũng biết tất: khi tôi ghi lại một đối thoại nội tâm, một suy tính, ấy là người ta đã kể lại cho tôi.

…

Ngược lại, có những việc khác tôi không đích thân trải nghiệm, như số phận bi thảm của Jamila hay những lầm lạc của Rahimullah. Người ta cũng kể cho tôi nghe chuyện Sultan đi hỏi vợ, câu chuyện này được các nhân vật trong cuộc thuật lại: Sultan, mẹ ông, Sonya, bố mẹ cô, những người chị em, người anh trai và Sharifa.

Mọi người đều biết tôi sống trong nhà họ để viết một cuốn sách; khi họ muốn tôi không nói đến một chuyện nào đó, họ bảo cho tôi biết. Tuy vậy tôi đã chọn biến họ thành vô danh cũng như những nhân vật khác trong câu chuyện này. Không ai bảo tôi phải làm như vậy, nhưng tôi thấy nên thế.

Cuộc sống hằng ngày của tôi là cuộc sống của gia đình này. Được đánh thức dậy từ buổi bình minh bởi những tiếng kêu của bọn trẻ và những mệnh lệnh của những người đàn ông, tôi sắp hàng chờ đến lượt trước phòng tắm hay chuồi vào đó khi mọi người đã dùng xong. Đôi khi, may mắn, còn có nước nóng, nhưng tôi đã nhanh chóng học biết được cái bổ mát của một cốc nước lạnh dội lên mặt. Suốt ngày hoặc tôi sống cùng những người phụ nữ, lúc ở nhà, lúc đi thăm họ hàng hay đi cửa hàng bách hóa, hoặc cùng Sultan và các cậu con trai của ông, ở hiệu sách, trong thành phố hay đi đây đi đó. Buổi tối, tôi ăn tối cùng gia đình và uống chè xanh cho đến giờ đi ngủ.

Dẫu tôi có là khách mời, rất nhanh chóng gia đình đã trở thành thân thuộc đối với tôi. Hào phóng và cởi mở, mọi người đã dành cho tôi một sự đón tiếp kỳ lạ. Tuy nhiên quả thật tôi hiếm khi nổi giận đến vậy đối với một người khác, tôi hiếm khi cãi nhau và cảm thấy muốn đánh một ai đó bằng những ngày tôi sống ở gia đình Khan. Bao giờ cũng là những lý do đó khiến tôi không thể kìm chế được: cách đàn ông đối xử với đàn bà. Định kiến về ưu thế của đàn ông ăn sâu đến mức đặc biệt lắm nó mới bị tranh cãi.

…

Tôi đã sử dụng chiếc burkha để nhập vai một người đàn bà Afganistan, để cảm biết được cái cảm giác, khi trên một chiếc xe buýt trống một nửa, mà lại phải chen nhau ở ba hàng ghế cuối cùng chật cứng dành riêng cho phụ nữ, cái cảm giác phải co mình lại trong một thùng xe taxi vì có một người đàn ông đã ngồi ở hàng ghế sau, cái cảm giác được coi là một cái burkha cao lớn và hấp dẫn và nhận được lời khen cái burkha đầu tiên của một người qua đường. Tôi đã thấy dần dần tôi đâm ra ghê tởm cái burkha đến mức nào, nó siết chặt trán tôi và khiến tôi đau đầu đến mức nào, cái mạng lưới của nó hạn chế tầm nhìn đến mức nào, nó gò bó và bí bức, khiến người ta nhanh chóng ngột ngạt đến chừng nào, ta phải hết sức chú ý đến cái chỗ ta bước đến chừng nào vì không thể nhìn thấy được bàn chân mình, nó bắt bụi, bẩn đi nhanh chóng đến mức nào, và thật thoải mái sung sướng đến mức nào được hất tung ra khi đã trở về đến nhà.

Cuối cùng tôi đã sử dụng burkha làm vật che chở khi tôi cùng với Sultan đi theo con đường nguy hiểm dẫn đến Jalalabad và chúng tôi phải qua đêm ở một nơi nghỉ chân nguy hiểm tại biên giới, hay khi chúng tôi đi ra ngoài đêm khuya. Nói chung, phụ nữ Afganistan chẳng mấy khi đi ra ngoài với một nắm tờ trăm đô la và một cái máy tính xách tay, vậy nên khoác burkha giúp tôi tránh được bọn cướp.

Tôi đã sống ở Kaboul mùa xuân đầu tiên sau khi bọn Taliban bỏ chạy. Mùa xuân ấy phập phồng một hy vọng mong manh. Dân chúng vui mừng vì bọn chúng đã cút đi, họ không còn phải sợ đám cảnh sát tôn giáo hành hạ trên đường phố, phụ nữ lại được đi lại một mình ngoài đường, họ có thể đi học, con gái được đến trường. Nhưng mùa xuân ấy cũng vẫn còn in đậm những nỗi thất vọng mấy chục năm qua. Tại sao bây giờ tình hình lại khá lên được?

Suốt mùa xuân, đất nước tương đối thanh bình, người ta có lạc quan hơn. Người ta toan tính các dự án, phụ nữ bỏ burkha ở nhà ngày càng nhiều, một số phụ nữ đã bắt đầu làm việc, những người lưu vong trở về.

Cũng như trước đây, chế độ lưỡng lự giữa truyền thống và hiện đại, giữa các thống lãnh chiến tranh và các thống lãnh bộ lạc. Trong tình trạng hỗn loạn ấy, vị cầm đầu Hamid Karzaù cố tạo nên một thế cân bằng và xác định một định hướng chính trị. Là người bình dân, ông không có quân đội cũng chẳng có đảng phái, trong một đất nước đầy súng đạn và những bọn phiến loạn đang chiến đấu.

Ở Kaboul, tình hình tương đối yên tĩnh, bất chấp hai vụ sát hại hai vị bộ trưởng, cuộc mưu sát một vị thứ ba và việc tiếp tục các cuộc tấn công chống lại dân chúng. Đa số người dân tin vào những người lính ngoại quốc vẫn tuần tra trên các đường phố: “Không có họ, thì sẽ có nội chiến mất thôi”.

Tôi đã ghi lại những gì tôi đã nhìn thấy và nghe thấy và cố gắng tập họp lại trong câu chuyện này những cảm xúc của tôi về một mùa xuân ở Kaboul, khi một số người cố vượt qua mùa đông để sinh sôi nảy nở trong khi những người khác thấy mình phải tiếp tục chịu kiếp “ăn bụi” thôi, như Leila sẽ nói.

Ásne Seierstad

Oslo, ngày 1 tháng 6-2002

Taliban là những sinh viên thần học được đào tạo trong các trường Hồi giáo miễn phí gọi là madrasa. Từ năm 1996 đến năm 2001 họ chiếm được toàn bộ Afganistan sau một cuộc nội chiến ác liệt và thiết lập một chế độ cai trị khắc nghiệt trên khắp đất nước.

Tức những chiến binh thành chiến theo đạo Hồi, trung thành với tổng thống Daoud, người bị lật đổ và bị giết năm 1993.

Burkha: áo choàng của phụ nữ Hồi Giáo, trùm kín từ đầu đến quá mắt cá chân, chỉ trước mắt có một mạng lưới dày cho phép nhìn thấy lờ mờ những gì diễn ra trước mặt.

Những trích dẫn đặc sắc / Những lời nhận xét đặc biệt về sách

Khi Sultan cho là đã đến lúc tìm một người vợ mới thì chẳng ai muốn giúp ông cả. Trước tiên, ông đến gặp mẹ.

– Hãy bằng lòng với người vợ con đã có!

Ông bèn nói với người chị cả.

– Tôi quý người vợ của cậu lắm.

Những người chị em khác của ông cũng trả lời ông hệt như vậy.

Bà cô ông thì bảo:

– Như vậy là mày làm nhục Sharifa đấy.

Sultan cần được giúp đỡ. Một người muốn lấy vợ không thể tự mình đi hỏi, phong tục Afghanistan đòi hỏi phải có một người phụ nữ trong gia đình người đàn ông đứng ra xin hỏi và xem xét kỹ cô dâu hơn để coi cô có xứng đáng không, có được dạy dỗ tốt và có khá giả không. Vậy mà bất kể thế nào chẳng có ai chung quanh Sultan muốn dính dáng vào việc này.

Sultan thử nhắm Sonya, 16 tuổi. Cô có đôi mắt màu hạnh nhân đục và mái tóc đen nhánh. Người ta bảo cô nở nang và chăm làm. Gia đình cô nghèo, bà cố ngoại cô và bà cố ngoại Sultan là hai chị em.

Trong khi Sultan suy tính làm sao tự mình lấy được người mình thích thì bà vợ của ông thản nhiên vui sướng, không hề hay biết một cô gái trẻ, sinh ra đúng vào năm bà cưới Sultan, từ nay đang chiếm hết tâm trí ông chồng. Đã 50 tuổi và trải qua bao nhiêu lầm bụi, Sharifa đã bắt đầu già, cũng như chính Sultan vậy. Bà đã sinh cho ông ba người con trai và một con gái. Đối với một người ở vị thế của ông, đã đến lúc tìm một người vợ khác.

Cuối cùng người em trai ông bảo:

– Thôi thì tự anh cứ đi mà hỏi lấy.

Sau khi suy nghĩ ít nhiều, Sultan biết rằng đó là giải pháp duy nhất, và một buổi sáng ông đến nhà cô gái. Bố mẹ cô đón tiếp người anh em họ này rất vồn vã. Sultan có tiếng là người hào phóng và các cuộc thăm viếng của ông bao giờ cũng được hoan nghênh.

– Cháu có một người bạn muốn được cưới Sonya.

Đây không phải là lần đầu tiên có người đến hỏi Sonya, cô đẹp và chăm làm, nhưng họ thấy cô còn quá trẻ. Bố Sonya là người tàn phế. Một cuộc đánh nhau bằng dao đã cắt đứt nhiều dây thần kinh cột sống của ông và ông bị liệt. Khi Sonya lấy chồng, cô có thể mang về cho bố mẹ nhiều tiền và do vậy họ chờ đợi một chỗ hời hơn những người đã đến dạm hỏi trước đây.

– Anh ta giàu có – Sultan mở đầu – Anh ta làm cùng ngành với cháu, là người có học vấn và đã có ba cậu con trai. Nhưng vợ anh ta đã bắt đầu già.

– Răng anh ta thế nào? – Bố mẹ cô gái hỏi ngay, ý muốn nói đến tuổi anh bạn nọ.

– Cũng gần giống như răng cháu. Hai bác cứ đoán xem.

Già đấy, họ nghĩ thầm. Dẫu sao đó cũng không nhất thiết là một trở ngại: người đi hỏi cô gái càng lớn tuổi thì càng phải trả nhiều tiền. Cái giá của một cô gái tùy thuộc tuổi tác, nhan sắc, các khả năng và cương vị xã hội của cô. Khi Sultan đã trình lời khẩn cầu của mình, bố mẹ cô nói đúng câu trả lời đã đoán trước được: “Nó còn trẻ quá”. Trả lời cách khác thì cũng bằng đem bán cô con gái với giá quá rẻ cho anh chàng giàu có chưa quen biết.

Ngày hôm sau ông đến lặp lại lời khẩn cầu của mình. Vẫn những đối thoại ấy, câu trả lời ấy. Song lần này ông được gặp Sonya mà ông đã không nhìn thấy kể từ khi cô còn là một đứa bé. Cô hôn tay ông vì lòng kính trọng đối với người họ hàng lớn tuổi hơn, và ông hôn lên mái tóc cô. Sonya nhận ra bầu không khí trầm nặng và thu mình lại dưới cái nhìn dò xét của ông cậu Sultan.

– Tôi đã tìm được cho cô một người đàn ông giàu có, cô nghĩ sao? – Ông hỏi.

Sonya cúi nhìn xuống. Trả lời sẽ là vi phạm mọi thông tục. Một người con gái không được quyền có ý kiến về việc người ta hỏi mình làm vợ.

Ngày thứ ba Sultan trở lại, và lần này ông nói rõ đề nghị của người hỏi cưới. Một chiếc nhẫn, một chiếc vòng đeo cổ, hoa tai và vòng tay – tất cả đều bằng vàng đỏ. Mọi thứ quần áo cô thích. 300kg gạo, 150kg dầu ăn, một con bò cái, vài con cừu và 50 triệu đồng afgani, tức hơn 400 USD đôi chút.

Bố Sonya quá bằng lòng với cái giá được đưa ra và yêu cầu được gặp mặt con người bí mật đã đề nghị món cống vật nọ.

– Ngày mai – Sultan hứa – hai bác sẽ thấy một bức ảnh của anh ta.

Hôm sau, bà cô của ông, mà ông đã có lo lót chút ít, nhận lời nói rõ cho bố mẹ Sonya biết tên tuổi thật của người muốn cưới cô. Bà mang theo một tấm ảnh của chính Sultan và dứt khoát yêu cầu họ trả lời trong một tiếng đồng hồ. Nếu họ nhận lời, Sultan sẽ rất biết ơn, còn nếu không thì quan hệ giữa đôi bên vẫn tốt như lâu nay.

Bố mẹ Sonya đồng ý ngay trước khi một tiếng kết thúc. Họ đánh giá cao bản thân Sultan cũng như tài sản và địa vị của ông. Trong nhà kho, Sonya khóc.

Cô biết rằng cô không muốn con người ấy, nhưng cũng biết phải tuân theo ý bố mẹ. Làm vợ Sultan, cô sẽ leo lên cao hơn nhiều bậc trong tôn ti xã hội Afghanistan. Cái giá cao của cô dâu sẽ giải quyết được rất nhiều vấn đề, món tiền có được sẽ giúp các anh em trai của cô mua được những người vợ tốt. Sonya câm lặng. Số phận cô đã được quyết định: không nói gì tức là đồng ý. Hôn ước được ký, ngày cưới được ấn định.

Sultan trở về nhà báo tin vui. Ông thấy vợ ông là Sharifa, mẹ ông và các chị em gái ông đang ngồi trên nền nhà quanh mâm cơm có món rau bina. Sharifa tưởng chuyện đùa cười phá lên và đùa trả lại ông, cũng như bà mẹ của Sultan không thể nào tin được rằng ông có thể đi hỏi vợ mà không có sự đồng ý của họ. Các chị em gái của ông thì lặng thinh.

Không ai muốn tin, cho đến khi ông đưa ra chiếc khăn tay và những món của ngọt mà một người đi hỏi vợ nhận được của bố mẹ cô dâu làm bằng chứng hôn ước.

Sharifa khóc suốt 20 ngày.

– Tôi đã làm gì xấu xa nào? Nhục nhã quá chừng! Tại sao anh không còn yêu tôi?

Sultan van bà hãy tỉnh trí lại. Không người nào trong gia đình ủng hộ ông, ngay cả các con trai của ông cũng vậy. Nhưng không ai dám nói bất kỳ điều gì. Ý muốn của Sultan bao giờ cũng phải được thực hiện. Không ai muốn dự lễ đính hôn. Tuy nhiên Sharifa đã phải can đảm nuốt lấy nỗi sỉ nhục của mình mà trang điểm cho buổi tiếp khách.

– Tôi muốn mọi người thấy rằng bà đồng ý với tôi và ủng hộ tôi. Tương lai chúng ta sẽ cùng sống chung với nhau và bà phải tỏ cho Sonya thấy rằng bà vui vẻ tiếp nhận cô ấy – ông ra lệnh.

Bao giờ Sharifa cũng tuân theo sở thích của chồng và bây giờ bà chiều ông điều tệ hại nhất: nhường ông cho một người phụ nữ khác. Thậm chí ông còn đòi Sharifa tự tay đeo nhẫn cho ông và Sonya.

Hai tháng sau, người ta tiến hành lễ cưới vào dịp năm mới theo đạo Hồi. Sharifa từ chối tham dự.

– Tôi không thể – bà giải thích với chồng.

Những người phụ nữ trong gia đình đứng về phía bà. Không ai mua áo mới, không ai son phấn như thường lệ vào dịp lễ cưới. Họ để đầu tóc bình thường, họ cười mà như nhăn nhó – để tỏ lòng kính trọng người đã bị loại, không còn chia sẻ chiếc giường ngủ cùng Sultan, chiếc giường từ nay được dành riêng cho cô dâu trẻ rụt rè nọ. Còn ngôi nhà của họ thì ngược lại, tất cả họ phải cùng nhau chia sẻ cho đến khi cái chết chia tách họ ra.

Trong câu chuyện của người phương Tây Asne Seierstad, những người phụ nữ Afghanistan cứ trở đi trở lại như một nỗi xót xa. Sống chung một nhà với các bà vợ và các cô em gái của ông chủ cửa hàng sách Sultan Khan, cái nhìn của nhà văn nữ vừa ngạc nhiên vừa phẫn nộ…

Những nội dung khác

Thông tin thêm về tác giả Asne Seierstad và tác phẩm The Bookseller of Kabul

Ngày 22-5, nhà báo Na Uy Asne Seierstad đã vượt qua các đối thủ nặng ký như tiểu thuyết gia Monica Ali (tác phẩm Brick Lane) để đoạt giải thưởng cao quí Emma với tác phẩm bestseller The Bookseller of Kabul, hiện đang là một trong những cuốn sách bán chạy nhất tại Anh.

Giải Emma có mục đích tôn vinh những người đã có đóng góp to lớn vào việc tăng cường sự hiểu biết và cảm thông giữa các nền văn hóa khác nhau. Giải Emma năm 2003 về tay đạo diễn Mỹ Michael Moore. Ban giám khảo đề cử các ứng viên giải dựa vào ý kiến của 20.000 người hoạt động trong các lĩnh vực thông tấn báo chí. Công chúng sẽ bầu người đoạt giải.

Thành công không trọn vẹn

Một năm sau khi xuất bản cuốn The bookseller of Kabul nói về một gia đình ba thế hệ ở Kabul, Afghanistan, Asne Seierstad, 33 tuổi, đã phải tự hỏi: “Có lẽ tôi đã đánh lừa chính mình khi nghĩ rằng nhân vật chính trong sách sẽ không phản ứng gì cả”. Người bán sách Shah Mohammed Rais, 60 tuổi, mà trong sách được đổi tên thành Sultan Khan đã thề sẽ kiện bà về tội phỉ báng để phục hồi danh dự cho mình.

Ông ta cho biết rất phẫn nộ trước việc một người được ông mời vào nhà sống bốn tháng như thân thuộc lại mô tả ông như kẻ lạc hậu, chuyên chế và nô dịch phụ nữ kể cả người vợ thứ còn rất trẻ. “Tôi đồng ý là có một số chi tiết lấn quá xa vào đời tư, nhưng tôi chỉ muốn nói lên một sự thật về phụ nữ Afghanistan” – Asne nói.

Chỉ riêng tại Na Uy, 220.000 ấn bản The bookseller of Kabul đã bán hết. Tháng 8-2003 cuốn sách có mặt tại Anh, Mỹ và giữ vị trí bestseller trong nhiều tháng liền. Đây là cuốn sách không thuộc thể loại tiểu thuyết bán chạy nhất trong lịch sử Na Uy. Phân nửa số tiền thu lợi từ sách được Asne gửi đến các tổ chức thiện nguyện đấu tranh cho quyền phụ nữ tại Afghanistan. “Tôi rất bức xúc trước việc họ hầu như mỗi ngày đều bị tra tấn tinh thần một cách rất tàn nhẫn” – bà nói. Mặc dù tác giả đã lược bỏ những đoạn văn bị xem là xúc phạm khi in lại nhưng Rais, hiện bán sách chủ yếu cho du khách và người nước ngoài tại khách sạn Intercontinental ở Kabul, vẫn chưa bằng lòng.

Trong vòng một tháng ông đã gửi 40 đơn tố cáo cuốn sách lăng nhục văn hóa Afghanistan và đạo Hồi. Ông còn dọa sẽ đưa vụ kiện sang cả nước Anh. Báo chí Na Uy đưa tin về cuộc đấu khẩu này gần như mỗi ngày làm phát sinh câu hỏi về tính đạo đức của các nhà quan sát phương Tây khi mô tả về những gì đang diễn ra tại các nước nghèo, đang phát triển. “Tôi đồng ý là có lẽ mình nên cẩn thận hơn khi tung cuốn sách ra thị trường. Nhưng tôi chỉ nói lên sự thật chứ không hề bịa đặt. Một phần khá lớn cuốn sách liên quan đến việc bán sách của Rais chứ không chăm bẳm vào việc mô tả ông ta như tên đồ tể của phụ nữ” – Asne nói.

Asne có điều gì phải lo về vụ kiện? Có lẽ không nhiều lắm vì một cuộc thăm dò dư luận mới đây cho thấy phần lớn dân chúng Na Uy thông cảm và ủng hộ bà. Bà cũng được sự hỗ trợ của các phụ nữ Afghanistan sống ở nước ngoài. “Nhiều người nói là tôi đã viết sự thật, thậm chí chưa đi đủ xa” – Asne nói và cho biết vụ kiện có thể sẽ được rút lại, nhưng Rais khẳng định đến cuối năm nay vụ kiện sẽ được xét xử.

Mọi việc bắt đầu cuối năm 2001, khi Asne theo quân Liên minh phương Bắc tiến vào Kabul để trám chỗ trống do phe Taliban vừa sụp đổ để lại. Một trong số người bà kết thân được trong thành phố là ông hàng sách Rais, người từng sống gian khổ qua nhiều chế độ. “Ông ta bị ngồi tù nhiều lần trong các chế độ khác nhau và sách của ông bị cướp phá, bị xé, bị đốt thường xuyên. Afghanistan cần những người nhiệt tâm với sách như ông ấy” – Asne nói.

Trong khi giới thiệu cho khách những cuốn sách cổ, Rais bắt đầu kể chuyện riêng của mình. Ông không chỉ nói về cuộc đấu tranh để bảo vệ bộ sưu tập sách quí mua từ các tủ sách tư nhân giấu trên tầng áp mái, mà còn nói về những chuyến du hành đến nhiều nơi xa xăm để bổ sung cho bộ sưu tập. Cần mẫn, ông làm việc như người bảo tồn tự nguyện các vốn quí của dân tộc Afghanistan bất chấp thái độ thù nghịch của Taliban. Là người nhạy bén với kinh doanh, Rais thú nhận ông kiếm được nhiều tiền nhờ bán sách thi ca vùng Persic, sách khoa học và ông đã nhiều lần đến Tehran (Iran) và Moscow (Nga) để tìm hiểu thị trường.

Vào thập niên 1970 khi Afghanistan còn yên ổn, cửa hàng sách của ông có nhiều trí thức, giáo sư và cả những tay hippie đi du lịch đến Ấn Độ ghé thăm. Ông cho biết trong ba thập niên có nhiều người nước ngoài đến cửa hiệu sách của ông để tìm những tư liệu họ muốn biết. “Người Nga dễ thương và lễ phép. Họ mua nhiều sách nói về nền văn hóa Afghanistan. Người Mỹ hiếm khi đến đây. Họ rất thô lỗ, thích văng tục, đeo kính đen và rảo khắp với súng ống đầy người” – Rais nói.

Dưới triều Taliban, Rais phải giấu phần lớn sách quí của mình. Hôm nay, những cuốn sách từng bị Taliban hủy hoại một phần đang trở thành vật lưu niệm được các nhân viên viện trợ và lính giữ gìn hòa bình người nước ngoài ưa thích. Họ thuộc số khách hàng chủ lực của ông. Người dân sở tại chỉ mua sách về máy tính, dạy nấu ăn, dạy tiếng Anh chứ không mua sách chính trị, triết học và kinh tế. “Cuộc sống hiện tại quá khó khăn, kinh tế lụn bại. Mua một cuốn sách là cả vấn đề. Người ta phải dành tiền mua thực phẩm vì đó là nhu cầu thiết yếu mà ngày càng đắt đỏ” – Rais nói. Sách của Asne ít nói về quá khứ của Rais và của thành phố.

Từ tiệm sách Shah M Books của mình, Rais theo dõi lịch sử Kabul và dự định viết một cuốn tự truyện trong đó đan xen cả cuộc sống phi thường của thành phố qua những bước thăng trầm. Tiệm sách của ông nằm ngay một giao lộ đông đúc, nơi những tay lái môtô thường xuyên gây gổ, đánh nhau bằng hung khí do va chạm. Rais có những cuốn sách rất quí về Trung Á. Ông nói: “Tôi không hề lạc quan về tương lai Afghanistan. Sau quá nhiều đau khổ chúng tôi đang trở thành nhà nước mafia. Nếu tôi có 100.000 đôla trong tay có nghĩa là tôi đã lên án tử cho mình”.

Cuộc đấu khẩu

Rais tin rằng thời gian ngắn ngủi Asne ở lại Kabul không đủ để nắm hết mọi vấn đề của đất nước này. “Bà ấy giới thiệu một hình ảnh méo mó của Afghanistan ra thế giới. Phụ nữ Afghanistan chịu đựng nhiều nhưng đó là do chiến tranh và kinh tế khó khăn”. Rais cho biết chân dung của ông trong cuốn The bookseller of Kabul đã bị thêu dệt bởi một nhà báo phản bội từng được gia đình ông tiếp đãi tử tế như người thân.

Còn trong cuốn sách sắp viết, Rais sẽ kể lại cuộc sống gian truân và hào hùng của ông trong việc bán sách, bắt đầu từ lúc ông còn là sinh viên Đại học Kabul. Đó sẽ là một câu chuyện rất khác với những gì kể trong The bookseller of Kabul, mà theo ông là chỉ để “câu” người đọc phương Tây vốn đang khao khát biết những gì diễn ra dưới chế độ Taliban và dễ tin vào những tiết lộ chưa được kiểm chứng.

Rais nổi tiếng trong giới báo chí phương Tây là một trong các nguồn tin độc lập nhất và tốt nhất của Kabul. Ông giúp đỡ nhiều cho đội ngũ phóng viên đổ về Kabul săn tin sau sự sụp đổ của Taliban và ông là kho báu vô giá của những người nước ngoài muốn tìm hiểu về đất nước Afghanistan khép kín sau 24 năm chiến tranh dai dẳng.

Theo Tuổi trẻ chủ nhật – Lê Tây Sơn (tổng hợp)

Xem chi tiết và đăng ký
Updated: December 25, 2015 — 7:04 pm
[ajax_load_more post_type="post, page"]
Tailieu4u.com - chia sẻ ebook- download free © 2017 Frontier Theme